Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017

Chung quanh vấn đề đào tạo chuyên ngành Dân tộc nhạc học

Vĩnh Phúc
Nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam theo hướng Dân tộc nhạc học thật ra đã manh nha từ đầu thế kỷ 20. Đã có khá nhiều bài nghiên cứu, chuyên khảo, chủ yếu là của các tác giả  người Pháp, đăng trên các tạp chí bằng tiếng Pháp như: Tạp chí Đông Dương (Revue indochinoise), Tập san Nghiên cứu Đông Dương (Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises- B.S.E.I), Tập san Những người bạn Huế xưa (Bulletin des Amis du Vieux Hué -B.A.V.H).., cũng như tạp chí tiếng Việt: Nam Phong, Viễn Á, Tri Tân, Thanh Nghị v.v... Sớm nhất là bài khảo cứu “ Ghi chú về nguồn gốc những bài hát dân gian  Annam “(Note sur  l’origine des chants populaires annamites của A.Chéon, một tác giả người Pháp đăng trong tập san Nghiên cứu Đông Dương (BSEI), số 14 năm 1889, và  “Dân ca Việt Nam” của Lê Văn Phát trong tạp chí Viễn Á năm 1925, sách nói về Hát trống quân của ông Nguyễn Văn Huyên in năm 1934 (Les chantsn alternés des garcons et des filles en Annam – Hát đối giữa trai gái Việt Nam), mà phần âm nhạc, chủ yếu là giới thiệu tiết tấu của trống quân v.v…
Những hoạt động trên lĩnh vực nghiên cứu, phê bình âm nhạc cổ truyền, thực sự có phương hướng rõ rệt là từ đầu thập niên 50, sau hội nghị Văn hóa văn nghệ toàn quốc năm 1948, nhất là từ sau khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, việc tổ chức lại đội ngũ đã đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phê bình, sưu tầm âm nhạc cổ truyền có quy mô, quy hoạch và khoa học. Chẳng hạn, tại quê hương Quan họ, đã có nhiều nhóm nghiên cứu mà thành viên là các nhạc sĩ chuyên nghiệp đã tổ chức những cuộc điền dã quy mô, dài ngày ở các trọng điểm hát quan họ của tỉnh Bắc Ninh. Trên các tạp chí, tập san, tuần báo, nhật báo cũng đã có đăng tải hầu hết các bài lý luận, phê bình, khảo cứu âm nhạc cổ truyền đặc trưng của các vùng, miền. Đặc biệt là dân ca, dân nhạc của các dân tộc ít người, mà trước năm 1945 chưa bao giờ được biết đến.
Cũng từ năm 1956, trong chuyên khảo Dân ca và xã hội, nhà hoạt động văn hóa Tử Phác đã nêu ra mối quan hệ tương tác giữa dân ca và hoạt động xã hội, đi sâu về khái niệm Dân ca - nhịp điệu, âm điệu cũng như mối quan hệ giữa nhịp điệu và âm điệu…mục đích để hiểu đúng giá trị của dân ca nhạc cổ, qua đó, nhằm nhấn mạnh vấn đề chính là sưu tầm, nghiên cứu và phát triển dân ca cần có một cách thức tiếp cận đúng đắn. Bài viết như một sự tổng kết, đánh giá, phê bình công tác phê bình âm nhạc, nghiên cứu, phát triển dân ca Việt Nam trong 10 năm: 1945 - 1955.1
Trong những nghiên cứu đầu tiên theo hướng âm nhạc dân tộc học là của các tác giả Tú Ngọc, Tô Vũ, Lưu Hữu Phước, Hồng Thao, Sơn Tùng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Viêm, Nguyễn Thụy Loan v.v… Càng về sau, những năm cuối thể kỷ 20, một số nhà nghiên cứu trẻ kế thừa thành quả, tiếp bước theo con đường nghiên cứu của những người đi trước… Tuy vậy, đội ngũ nghiên cứu theo hướng Âm nhạc dân tộc học lớp trước đến nay cũng vẫn đang “độc hành”, chỉ truyền thụ cho lớp sau theo kiểu “truyền đạt kinh nghiệm” chứ không phải chính danh là “đào tạo” đội ngũ nghiên cứu Âm nhạc dân tộc học của tương lai. Vì thế,  trong thực tế nghiên cứu âm nhạc nước ta, mặc dù có sự tự học, hội nhập, tiếp cận với khuynh hướng nghiên cứu Âm nhạc dân tộc học của một số nước trên thế giới nhưng đa số, chưa thể có sự phân chia ra rạch ròi giữa âm nhạc học (Musicology) và Âm nhạc dân tộc học (Ethnomusicology).
Cũng vì sự cấp thiết trong lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc cổ truyền, đến năm 1981, một số nhà nghiên cứu Dân tộc học trong một bài viết đã như một lời kêu gọi giới nghiên cứu âm nhạc nên phối hợp nghiên cứu liên ngành, nhất là với ngành dân tộc học. Vì theo ông, “người nghiên cứu chỉ hiểu được đầy đủ nền âm nhạc truyền thống của một nước một khi nghiên cứu nó dưới góc độ lịch sử, tổ chức xã hội, đời sống vật chất và tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng của dân tộc đó thay đổi qua dòng thời gian”.2 Chính điều này từ năm 1979 cũng đã được nhà khoa học âm nhạc – GS. Tô Ngọc Thanh gợi mở bằng mười đặc điểm cơ bản trong nghiên cứu âm nhạc dân gian như là: “Tính tổng thể nguyên hợp; mang bản chất xã hội; tính thực hành xã hội; tính trình diễn; tính truyền khẩu; tính dị bản; tính tập thể  hay tính khuyết danh” v.v...3  Sự “nghiên cứu liên ngành” đó là gì nếu không phải là một trong những chức năng chính của Âm nhạc dân tộc học.
Thực trạng đào tạo đội ngũ nghiên cứu phê bình âm nhạc của chúng ta từ trước đến nay, chủ yếu là chuyên ngành Lý luận âm nhạc. Dù được đào tạo từ bậc trung học 4 năm rồi đại học 4,5 năm nhưng khối kiến thức âm nhạc học lại nặng về âm nhạc cổ điển phương Tây, như hòa âm, phức điệu, phối khí cho dàn nhạc giao hưởng, lịch sử âm nhạc phương Tây v.v… Vì vậy, một số sinh viên lý luận âm nhạc ra trường, với vốn kiến thức đã được học thường phải mày mò, tự học thêm để trang bị cho mình một số kiến thức thuộc lĩnh vực dân tộc học, văn hóa học… nếu có ý tưởng, cũng như sự đam mê nghiên cứu lĩnh vực nhạc cổ truyền của đất nước mình.
- Ở nước ta, từ lâu đã có một Viện âm nhạc (nay thuộc Học viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam) với lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn âm nhạc di sản đã hoạt động như một Viện âm nhạc dân tộc học… nhưng hầu như chưa có đối tượng tiếp cận một cách “chính danh” với khối tư liệu là di sản âm nhạc của các tộc người trên mọi miền đất nước, được lưu trữ tại Viện. Đối tượng cần thiết đó là ai, đó chính là đội ngũ sinh viên được đào tạo theo chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học.
- Học viện âm nhạc Huế được phép thành lập khoa Âm nhạc di sản để đào tạo các di sản âm nhạc thuộc khu vực miền Trung – Tây Nguyên, tuy nhiên, để tạo tiền đề cho việc mở chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học, vừa qua Học viện đã được phép liên kết mở thử nghiệm chuyên ngành không chính quy về Đàn hát Dân ca Việt Nam…
- Để bảo tồn và phát huy các giá trị âm nhạc di sản của dân tộc một cách hoàn chỉnh, quy mô, khoa học trong thời kỳ hội nhập, tương thích với xu hướng nghiên cứu của thế giới… Đã đến lúc, trong đào tạo bậc đại học âm nhạc, việc đào tạo chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học để đào tạo đội ngũ có kỹ năng nghiên cứu chuyên sâu về dân ca dân nhạc của 54 dân tộc Việt Nam hiện nay là điều cấp thiết.
Tháng 12 - 2011, Học viện âm nhạc Huế với sứ mệnh, chức năng được giao, đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Đào tạo chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học tại Học viện âm nhạc Huế” nhằm cùng chia sẻ, trao đổi ý kiến của các nhà khoa học, cũng như các nhà nghiên cứu hằng quan tâm đến lĩnh vực này…  phục vụ cho việc giảng dạy Chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học (hay Dân tộc nhạc học) - chuyên ngành nằm trong mã ngành Âm nhạc học - một cách đúng hướng và hiệu quả.
Hội thảo đã thảo luận, trao đổi ý kiến về nhu cầu xã hội, sự cần thiết và dự báo tương lai của chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học tại Việt Nam; Về chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo… của chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học ở Học viện âm nhạc Huế; Kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành này ở một số nước trên thế giới… cũng như một số vấn đề khác có liên quan.
- Về nội dung, chương trình đào tạo: Ở nước ta từ năm 1978 đã có đề án môn Âm nhạc dân tộc học Việt Nam do GS. TSKH Tô Ngọc Thanh soạn thảo.4 Sau đó đổi thành tên môn học Âm nhạc dân tộc cổ truyền dạy cho sinh viên khoa Sáng tác Lý luận Chỉ huy nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam). Gần đây, GS.TS Phạm Minh Khang có xây dựng đề cương, chương trình môn học “Dân tộc nhạc học” cho đối tượng sinh viên chuyên ngành Lý luận âm nhạc.
Do chưa có riêng một chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học nên chương trình trên chỉ được giảng dạy như một môn học bổ trợ kiến thức chung cho chuyên ngành khác. Môn Âm nhạc dân tộc cổ truyền đã nêu ở trên, được dạy cho chuyên ngành lý luận, chuyên ngành Sáng tác, chuyên ngành Chỉ huy và kể cả các ngành biểu diễn nhạc cụ Tây phương, biểu diễn nhạc cụ truyền thống. Thời lượng môn học là ba học kỳ, sau rút xuống hai học kỳ và cuối cùng chỉ còn lại một học kỳ. Đây là một bất cập.
Nội dung hai môn học nêu trên được các tác giả soạn thảo, với khối lượng kiến thức đặc thù của Âm nhạc dân tộc học, tự thân đã vượt qua giới hạn của một môn học. Vì vậy, muốn hoàn thành đáp ứng được khối lượng kiến thức đó thôi, thì môn Âm nhạc dân tộc học phải được đào tạo theo một chuyên ngành riêng. Chúng tôi xin trích nội dung chương trình giảng dạy đại học môn Âm nhạc dân tộc học của một trong hai đề cương đã được soạn thảo kể trên:
A.          Những vấn đề chung
1. Lý thuyết của âm nhạc cổ truyền (nếu có)
2. Phương pháp điền dã. Kỹ thuật sử dụng các loại phương tiện nghe nhìn. Phương pháp phỏng vấn sâu. Thiết lập quan hệ với người bản xứ.
3. Phương pháp xở lý tư liệu và viết công trình
4. Đạo đức của nhà Âm nhạc dân tộc học.
5. Những kiến thức cơ bản về sử học dân tộc, dân tộc học, ngôn ngữ học, thi pháp, tôn giáo tín ngưỡng, tín hiệu học và ký hiệu học.
6. Giới thiệu những đặc điểm chung nhất của âm nhạc các dân tộc Việt Nam.
7. Những thành tố của âm nhạc Việt Nam.
B. Những vấn đề kỹ năng âm nhạc
1. Tính chức năng của các thể loại dân ca và phương pháp phân loại
2. Mối quan hệ nhạc và lời trong dân ca. Vai trò của nó trong việc hình thành các đặc điểm âm nhạc của dân ca. Những vấn đề âm điệu. Chọn lựa và tổ chức âm thanh.
3. Quy luật phân ngắt và liên kết. Các vấn đề nhịp điệu.
4. Vai trò của cấu trúc âm nhạc. Các dạng cấu trúc.
5. Sơ lược về lịch sử phát triển nhạc cụ và vai trò âm nhạc của chúng.
6. Âm thanh học trong âm nhạc
….
10. Nhạc cụ học và phương pháp phân loại.
11. Nhạc đàn và các biên chế dàn nhạc 5
…
Nội dung môn học trên đã vượt ngưỡng của một môn học bổ trợ kiến thức nhưng chưa phải vì thế mà trở thành một giáo trình chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học (Ethnomusicology) đúng nghĩa…
Thông tư số 28/2010/TT-BGDĐT ngày 01/11/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành chương trình khung giáo dục đại học khối ngành Văn hóa - Nghệ thuật - Thông tin, trình độ đại học và cao đẳng, trong đó có ngành đào tạo Âm nhạc học (Musicology) với khối kiến thức cần nắm vững là những kiến thức cơ bản về khoa học xã hội và nhân văn; hệ thống kiến thức về lĩnh vực Âm nhạc học: lịch sử và lý luận âm nhạc; Phê bình âm nhạc; Âm nhạc dân tộc học.
        Như vậy, Âm nhạc dân tộc học (hay Dân tộc nhạc học) - chuyên ngành nằm trong mã ngành Âm nhạc học. Khung chương trình với khối lượng kiến thức ngành Âm nhạc học gồm danh mục các học phần bắt buộc như sau:
Ngành đào tạo:           ÂM NHẠC HỌC (Musicology) 6
Trình độ đào tạo: Đại học
Thời gian đào tạo: 4 năm                                
MỤC TIÊU ĐÀO TẠO
Mục tiêu chung
Chương trình đào tạo ngành Âm nhạc học trình độ đại học nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về Âm nhạc học để có năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo.
Phần mục tiêu kiến thức, kỹ năng được đặt ra là: Nắm vững những kiến thức cơ bản về khoa học xã hội và nhân văn; hệ thống kiến thức về lĩnh vực Âm nhạc học: lịch sử  và lý luận âm nhạc; Phê bình âm nhạc; Âm nhạc dân tộc học; Có kỹ năng sưu tầm, tổng hợp; đánh giá, nghiên cứu, phê bình âm nhạc…
Như vậy, chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học nằm trong ngành đào tạo Âm nhạc học (mã ngành: 52210201). Các học phần bắt buộc là khối kiến thức chung, đều phải học như các chuyên ngành Lịch sử và Lý luận âm nhạc, chuyên ngành Phê bình âm nhạc hoặc các Ngành đào tạo khác nhưng cùng khối như Sáng tác âm nhạc (mã ngành: 52210203), Chỉ huy âm nhạc (mã ngành: 52210204). Các kiến thức chuyên sâu về Âm nhạc dân tộc học được phân bổ theo thời lượng chuyên ngành của nó. Ngoài ra còn có các học phần tự chọn, cũng là nơi sinh viên tự chọn để trang bị các kiến thức liên quan đến chuyên ngành, như dân tộc học, văn hóa học, âm thanh học v.v…
Vấn đề đào tạo Âm nhạc dân tộc học theo chuyên ngành, PGS.TS Nguyễn Thụy Loan cũng đã từng nhấn mạnh: “Để đào tạo những người làm Dân tộc nhạc học, cần có một chuyên ngành chứ không phải một môn học… Dân tộc nhạc học phải được hiểu là một chuyên ngành đào tạo, chứ không phải là một môn học. Thậm chí, để có được kĩ năng thực hành cơ bản, chuyên ngành này cũng cần có những cấp học từ thấp tới cao…Nếu chỉ dừng ở một môn học, thì môn học này chỉ có giá trị như một môn bổ trợ kiến thức chung cho một chuyên ngành khác, và chỉ với môn học đó, khó có thể – nếu không khẳng định là không thể, đào tạo được những người có đủ kĩ năng để thực hiện tốt những công trình nghiên cứu Dân tộc nhạc học thực sự”…7
Về vấn đề ứng dụng việc đào tạo âm nhạc dân tộc học trên thế giới vào nước ta, cũng theo ý kiến của PGS.TS Nguyễn Thụy Loan: “việc ứng dụng các chương trình đào tạo Dân tộc nhạc học của các nước khác vào Việt Nam,... cũng cần lưu tâm tới những chương trình có tính cập nhật nhất với thực tiễn nghiên cứu đương đại, đồng thời phải nghiên cứu, cân nhắc và chọn lọc cho phù hợp” 8
Thay lời kết, xin mượn lời của một nhà nghiên cứu âm nhạc: “Thực tế cho thấy, việc đào tạo lĩnh vực dân tộc nhạc học nếu không được tổ chức sớm và bài bản thì e rằng trong tương lai không xa, việc “gieo vừng ra ngô”, “râu ông nọ cắm cằm bà kia” trong phát huy âm nhạc truyền thống sẽ xảy ra, tương tự như hiện tượng “tân cổ giao duyên” đã diễn ra trong một số chương trình âm nhạc dân tộc, lễ hội văn hóa… gần đây”.9                                                  
                                                                        V.P
Chú thích
1. Tử Phác, Dân ca và xã hội, Tập san Âm nhạc số 10, 11/1956 và số 1/1957
2. Đặng Nghiêm Vạn (1981), Vài ý kiến về nghiên cứu âm nhạc truyền thống, T/c NCNT, số 2.
3. Tô Ngọc Thanh (1979), Sơ lược về âm nhạc dân gian, T/c Âm nhạc, số 2.
4. Tô Ngọc Thanh, Phác thảo về Âm nhạc dân tộc học, nguồn: www.spnttw.edu.vn.
5. Tô Ngọc Thanh, Bài đã dẫn
D4801.htm
7. Nguyễn Thụy Loan, Trao đổi chung quanh vấn đề Dân tộc nhạc học ở Việt Nam, Nguồn: http://www.vnmusicology-inst.vnn.vn/vietnamese/
thongtin/
8. Bài đã dẫn.
9. Nguyễn Đình Lâm. Dân tộc nhạc học và một số vấn đề cần quan tâm,
Default.aspx
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Văn Khê (1958), Nhạc phương Đông, nhạc phương Tây, Bách Khoa, SG, số 16, 17, 18.
2. Đặng Văn Lung (1981), Sưu tầm nghiên cứu các âm nhạc dân gian nên tự đặt mình trong quan hệ văn nghệ dân gian, T/c Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 2.

3. Tô Ngọc Thanh (1984), Âm nhạc dân gian trong cuộc sống cổ truyền của người Việt Nam, T/c Âm nhạc số 1.

Giới thiệu Sách Báo xưa ☛

Cảm nghĩ qua bài hát Tiếng đàn Ta lư của nhạc sĩ Huy Thục

Nhạc sĩ Huy Thục

Trong một buổi xem ti-vi, tôi thấy một diễn viên hài của một đoàn cải lương nào đó ở Sài Gòn đang cố trổ tài “cương” trong một lớp diễn để cù khán giả. Bổng anh ta cất cái giọng nghèn nghẹt rất ư là Pê đê, hát lên một đoạn trong bài hát “Tiếng đàn Talư”. Mọi người cười thích thú. Tôi cũng hay cười, nhưng chưa kịp cười, vì giai điệu của bài hát mới, đã cũ làm tôi mãi nghĩ đến chuyện khác.
Những địa danh Tà Cơn, Khe Sanh, Gio An, đồi Động Tri nhắc cho tôi nhớ rằng, bài hát này ra đời trên quê hương Quảng Trị, của nhạc sĩ Huy Thục viết cách đây đã 30 năm.
Thời gian qua nhanh quá! Giai điệu sôi nổi, tươi vui của bài hát được nghe lại hôm nay, dù với tính chất hài hước của giọng ca, nhưng tôi vẫn cảm thấy tươi mới. Tưởng chừng đâu đây thôi, âm vang rộn rã ấy vọng ra từ làn sóng đài TNVN, trong đêm diễn phục vụ chiến trường của các đoàn văn công, các đội tuyên truyền xung kích, hay các đội văn nghệ cơ sở của tỉnh nhà trong những mùa hội diễn. Một thời là bài hát cửa miệng của mọi người… Cây đàn Ta Lư mà trước đây ít người biết đến, cũng hình ảnh cô gái dân tộc Vân Kiều của núi rừng Quảng Trị bỗng chốc, qua bài hát, mà trở trành biểu tượng đẹp, thân yêu trong cả nước.
Nhạc sĩ Huy Thục sáng tác bài hát “Tiếng đàn Ta lư” vào năm 1968, lúc anh đang chiến đấu, công tác ở mặt trận phía tây Quảng Trị, cùng lúc với các bài hát khác của anh cũng được rất nhiều người biết đến như: “Ơi dòng suối La La”, “Chiến thắng Làng Vây” và sau này là “Đêm Quảng Trị” phổ thơ Vũ Ngàn Chi (1973). Nhưng “Tiếng đàn Ta Lư” có một sức sống riêng. Đặc biệt, sau ngày giải phóng (1975) nó càng được bay xa. Công chúng yêu âm nhạc ở vùng mới giải phóng từng một thời hát tình ca buồn và nhạc trẻ, đã đón nhận nó với sự nhiệt tình, nồng hậu.
“Đi chiến trường gùi trên vai nặng trĩu. Đàn Ta Lư em cất tiếng ca vang cùng núi rừng, mừng thắng trận quê em”…
Sở dĩ bài hát được phổ cập một cách rộng rãi như thế vì nó phù hợp với tâm tư, tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của quần chúng trong một giai đoạn, một hoàn cảnh nhất định. Tác giả đã thực sự lăn lộn với thực tế, biết chắt lọc, khai thác đề tài trong hiện thực ngồn ngộn của cuộc sống chiến đấu của quần chúng, thể hiện nó dưới một hình thức đơn giản, dễ hiểu, kết hợp được yếu tố dân gian và hiện đại trong ngôn ngữ âm nhạc. Phải thừa nhận rằng sáng tác một ca khúc mang âm hưởng dân ca của một vùng, trong thời điểm năm 1968, mà thành công như bài “Tiếng đàn Ta Lư” không phải lúc nào và ai cũng có thể làm được.
Bài hát được sử dụng nhạc ngữ dân tộc: giai điệu hình thành trên thang âm ngũ cung. Màu sắc dân ca dân tộc miền núi Trị-Thiên được nhấn mạnh bằng các quảng hai trưởng, phù hợp với thanh điệu giọng nói “lơ lớ” không dấu của người Vân Kiều: “Gùi trên vai nặng trĩu”…”Đồn Tà Cơn hôm nào bốc cháy”. Ngoài ra còn cố ý “gia” thêm chất liệu Tây Nguyên một cách hợp lý với yếu tố nửa cung đặc trưng trong đường nét giai điệu…
Cấu trúc hình thức bài hát không lệ thuộc các thể thức âm nhạc bác học Tây phương, mà được bố cục theo các giai đoạn của nội dung, tình cảm. Song nhìn chung vẫn hình thành hai đoạn nhạc chính. Đoạn I gồm 2 vế nhạc cân đối. Giai điệu nhẹ nhàng, tha thiết nhưng vui tươi, lạc quan như tiếng ca và tiếng đàn Ta Lư của cô gái Vân Kiều trên đường đi phục vụ chiến trường. Gùi trĩu nặng trên vai mà lòng phơi phới hân hoan hát ca mừng tin thắng trận của quê nhà. Đoạn II cũng gồm 2 vế nhưng được mở rộng gấp đôi bằng các thủ pháp mô phỏng phát triển, đảo ảnh âm hình…Tính chất âm nhạc sôi động và náo nức hơn, như niềm vui trào dâng trước thắng lợi dồn dập của quân giải phóng.
“Tính, tính…tính, tang tang tình…Bộ đội giải phóng quân ơi! Anh thắng trận miền tây Khe Sanh, đồn Tà Cơn hôm nào bốc cháy, đồi Đồng Tri xác Mỹ chất đầy. Kia trông”… “Các anh đánh hay hung!”.
Sau nét nhạc dạo, là một vế nhạc ngắn, cân đối, rất thiết tha, trải ra và lan xa giữa núi đồi bao la: “Đàn em reo ca, ôi đàn Ta Lư”…làm cân bằng tốc độ tình cảm dồn dập của đoạn II.
Sự thống nhất về motif, biểu hiện bằng sự quán xuyến các nhóm âm hình trong thủ pháp phát triển nhịp nhàng, sôi động đem lại cho bài hát một màu sắc trẻ trung, hiện đại. Yếu tố nhất quán tiết tấu đó, tạo ra trong toàn bộ giai điệu dáng dấp của các tiết điệu Fox, Disco… gần với ngôn ngữ âm nhạc Estrade.
Có thể, trên đây là một trong nhiều nguyên nhân, khiến cho bài hát “Tiếng đàn Ta Lư” vượt địa giới, đến với mọi miền đất nước bằng sức sống khá dẻo dai. Hơn hẳn một số bài hát khác, cùng thời của anh cũng đã sáng tác trên quê hương Quảng Trị. Mặc dù, bài “Ơi dòng suối La La” cũng là một bài hát tốt. Ở một khía cạnh nào đó, còn trội hơn “Tiếng đàn Ta Lư”. Tuy vậy, sức bền của nó trong lòng công chúng mới là thước đo về nghệ thuật. Chúng ta phải thấy rằng, “Tiếng đàn Ta Lư”, hay tất cả các bài hát khác trước đây, tác giả viết ra nhằm phục vụ cho một giai đoạn cách mạng của đất nước - một chiến dịch, một phong trào. Mục đích cao nhất bây giờ, là động viên tinh thần hăng hái chiến đấu sản xuất của quần chúng, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bởi thế, dù là một bài thơ, một bài hát đều mang một lợi ích riêng, một tác dụng, giá trị riêng. Do đó, nó chỉ có sức sống riêng trong thời kỳ của nó. “Tiếng đàn Ta Lư” hơn hẳn các bài hát cùng thời của Huy Thục ở điểm đó. Nó đã sống lâu hơn “Đêm Quảng Trị”, “Chiến thắng Làng Vây”…
Giờ đây, tất cả đều đã đi qua! Lịch sử đã sang trang, thời đại đã đổi mới! Âm vang một thời hào hùng lắng sâu vào truyền thống, làm dày thêm truyền thống của quê hương, dân tộc. “Tiếng đàn Ta Lư” cùng vô số “bạn bè” nó, của một thời văn hóa đã đi vào quên lãng, trong một ý nghĩa nào đó! Như bà mẹ đã dần nguôi ngoai niềm thương đau về những đứa con mà bây giờ, chỉ còn lại mộ bia nơi nghĩa trang liệt sĩ, bốn mùa lá hát, chim ca…
Tình cờ, nghe lại bài hát. Những địa danh quen thuộc của quê nhà lại vang lên, trong lòng tôi bộn bề những cảm xúc. “Tiếng đàn Ta Lư” ghi lại rất rõ nét một giai đoạn lịch sử cụ thể, thể hiện lên tình yêu khát vọng của nhân dân Quảng Trị trong sự nghiệp giải phóng quê hương đất nước. “Tiếng đàn Ta Lư” có thể sẽ không tồn tại trong sinh hoạt âm nhạc đương đại, cũng chỉ là một quy luật tất yếu. Tổ quốc đã vĩnh viễn Độc lập - Tự do. Việt Nam đang hòa vào thế giới, vươn đến đỉnh cao của văn minh, tiến bộ. Cuộc đời đã đổi khác. Những diễn biến trong sâu thẳm tâm hồn của con người cũng khác, phong phú và phức tạp hơn! Nghệ thuật trở lại với bản chất của nó, tiếp nhận thêm yếu tố khác - yếu tố cá thể được thực hiện sứ mệnh của nó đối với con người, cuộc đời. Hẳn vì thế mà nhạc sĩ Huy Thục, người đã trải qua hai cuộc kháng chiến, trên đầu đã hai màu tóc, mà giờ đây, lại phải ngẩn ngơ “Đứng trên cầu đợi em”(*).
                                                                                           Huế -1998     
                                                                                           Vĩnh Phúc
(*) Lời một bài hát của nhạc sĩ Huy Thục sang tác sau này.
* Nơi công bố:

-        Tạp chí CỬA VIỆT số năm 1999

Giới thiệu Sách Báo xưa ☛

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

Âm hưởng dân gian trong ca khúc nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ

                 
                                                                   VĨNH PHÚC
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (1929-2001) sinh tại Triệu Phong, Quảng Trị, nhưng cũng như Duy Khánh, Nguyễn Hữu Ba…ông đã có quá trình sinh sống và hoạt động tại Huế: Cuối năm 1945 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Đoàn Tuyên truyền Kháng chiến hoạt động tuyên truyền tại mặt trận Huế có cả nhạc sĩ Trần Hoàn và Hoàng Thi Thơ… Tháng 2/1947, mặt trận Huế bị vỡ, phần lớn văn nghệ sĩ Huế đã rời thành phố tham gia kháng chiến ở khắp các chiến trường Bình Trị Thiên, Liên khu 4…

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ thời trai trẻ. Ảnh: Internet
Nhân đọc cuốn hồi ký “Tân Nhân & Xa khơi” (Nxb Lao Động, 2013) của NSƯT, ca sĩ Tân Nhân - người ca sĩ đã thể hiện thành công nhất bài hát Xa khơi của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ trước đây,…được biết thêm cuộc tình bi đát của chính ca sĩ với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nhất là phần cuối hồi ký có đăng lại đơn đề nghị của ca sĩ Tân Nhân gửi Bộ Văn hóa và Thông tin năm 2007 về việc công bố sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ tại Việt Nam. Trong đó có đoạn viết: “Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từng là một người đồng chí đồng đội của tôi trong kháng chiến chống Pháp... Trong sáng tác âm nhạc dù trong môi trường nào, những sáng tác của nhạc sĩ cũng đều mang âm hưởng dân ca, đậm màu sắc dân gian, nội dung ngợi ca tình yêu đất nước quê hương… Điều đáng tiếc vì những lý do lịch sử, các tác phẩm của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ chưa được phép sử dụng trong nền nghệ thuật của chúng ta mặc dù nó vẫn được lan truyền trong dân gian”…
Bìa Hồi ký của NSƯT Tân Nhân

Trên cơ sở tham khảo danh mục các bài hát đã được cấp phép cho tác giả Hoàng Thi Thơ hiện nay của Cục Nghệ thuật Biểu diễn - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch… xin nêu dẫn một số ca khúc tiêu biểu thấm đẩm âm điệu dân tộc đã đi vào lòng công chúng xưa và nay.
Trong sự nghiệp sáng tác của Hoàng Thi Thơ, gồm hằng trăm ca khúc và nhiều thể loại âm nhạc khác, thì  mảng đề tài quê hương với  “đồng xanh, lúa vàng, gió mát, trăng thanh” đã tạo nên một sắc màu, một âm điệu đặc trưng trong âm nhạc, vẽ nên  một bức tranh thủy mạc gắn bó một thời với làng quê Việt Nam xinh đẹp, thanh bình…Có thể, ông đã sống qua một thuở thiếu thời tại một làng quê xinh đẹp là làng Bích Khê quê của ông, nên những nét đẹp của làng quê đã như một nét chủ đạo, có mặt hầu hết trong ca khúc về quê hương của ông; Có thể, xuất phát từ lòng yêu nước, yêu quê hương được hun đúc trong thời tham gia kháng chiến (Từ năm 1945, tham gia đoàn văn nghệ Quảng Trị do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba làm trưởng đoàn. Năm 1946, cùng với nhạc sĩ Trần Hoàn gia nhập đoàn tuyên truyền kháng chiến Trung bộ do nhà văn Hải Triều phụ trách. Năm 1947 làm phóng viên và biên tập viên báo "Cứu Quốc" tại Liên khu 4 do Lưu Quý Kỳ làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và nhà thơ Chế Lan Viên làm trưởng ban biên tập…), nên đề tài quê hương luôn là nét son trong toàn bộ sáng tác của ông…Tiêu biểu là chùm ca khúc: “Gạo trắng trăng thanh”, “Duyên quê”, “Trăng rụng xuống cầu”, “Rước tình về với quê hương”, “Đám cưới trên đường quê hương”, “Mấy nhịp cầu tre”, “Tình ca trên lúa”, “Ô kìa, đời bỗng dưng vui”, “Tình lúa duyên trăng”, “Rong chơi cuối trời quên lãng” “Múc ánh trăng vàng”…hay những ca khúc viết về những mối tình quê: “Chuyện tình cô lái đò bến Hạ”, “Chuyện tình người trinh nữ tên Thi”, “Chuyện tình La Lan”, “Túp lều lý tưởng” v.v…
Âm hưởng dân gian biểu hiện trong dòng nhạc quê hương của Hoàng Thi Thơ  không hẳn là sự vận dụng cụ thể từ một làn điệu dân ca cụ thể nào, mà chất liệu ấy được tích hợp bằng những yếu tố sau:
- Tuyến giai điệu hình thành từ vị trí ngữ âm trong ca từ, đó là sự lên bổng xuống trầm của giai điệu đều khớp với các dấu giọng trong tiếng Việt, cộng với lời ca trữ tình nhưng mộc mạc như khúc ca dao, kèm theo là tiếng láy, tiếng đệm, tiếng đưa hơi đặc trưng của dân ca đã làm cho ca khúc bàng bạc màu sắc gió nội hương đồng, gần gũi với tâm hồn công chúng Việt Nam. Yếu tố này chúng ta thấy quán xuyên trong các ca khúc: “Duyên quê”, “Mấy nhịp cầu tre”, “Gạo trắng trăng thanh”…
Trong “Duyên quê”: …dầm mưa dãi nắng (mà) em biết yêu trăng đẹp ngày rằm… Một buồng cau trắng (mà) duyên đôi ta nên vợ thành chồng… …(mà) đôi chúng ta xây dựng đời này…
Thí dụ 1.
Trong “Mấy nhịp cầu tre”: …Cho chàng (là chàng) làng bên ấy, Thương em (là em) thôn bên này…(hơ hơ hơ hơ hơ hơ) Cầu tre (tang tịch tình tang)…
Thí dụ 2.
Trong “Gạo trắng trăng thanh”: …Sông dài (Long là) Cửu Long v.v…
Thí dụ 3.
- Mặc dù kiến thức âm nhạc cổ điển phương Tây đã được ông trau dồi thấu đáo, (Từng học lớp harmonie (Hòa âm), fugue (Fuga), contrepoint (Đối vị), orchestration (Dàn nhạc), instrumentation (Nhạc khí pháp) và direction d'orchestre (Sáng tác giao hưởng) với École Universelle (Pháp). Năm 1956 đã xuất bản sách: “Để sáng tác một bài nhạc phổ thông”) nhưng trong ca khúc viết về quê hương, dân tộc thì ông đã kế thừa vốn nhạc cổ truyền, không lệ thuộc hoàn toàn vào cấu trúc hình thức âm nhạc phương Tây. Chẳng hạn trong phát triển giai điệu âm nhạc, nhạc sĩ thường hay sử dụng điệu thứ tự nhiên;  thủ pháp nhắc lại âm hình, nhất là thủ pháp mô phỏng, nên tiết chế được chất liệu để tập trung vào chủ đề, hình tượng âm nhạc đã đặt ra, tạo sự dễ nhớ, dễ hiểu cho người nghe, như ca khúc “Chuyện tình cô lái đò bến Hạ”, “Chuyện tình người trinh nữ tên Thi”, “Duyên quê” v.v…
Dù ca khúc được cấu trúc bằng thể thức hai đoạn đơn, ba đoạn đơn theo lý thuyết âm nhạc phương Tây nhưng hầu như không chú trọng đến tính tương phản, đối tỉ giữa đoạn một và đoạn hai. Thủ pháp Hoàng Thi Thơ thường sử dụng là điệp câu, điệp đoạn, hay với thủ pháp mô phỏng theo kiểu sự chuyển hệ thang âm trong âm nhạc cổ truyền, và thường là chuyển lên quãng bốn, nên màu sắc dân tộc rất đậm đà.
Thủ pháp mô phỏng theo kiểu chuyển hệ này đã tạo nên một cấu trúc hình thức xinh xắn trong bài “Chuyện tình cô lái đò bến Hạ”:Câu 1 ở bậc chủ là Rê, câu 2 mô phỏng lên 1 quãng bốn là Son.
Thí dụ 4.
             Âm nhạc chỉ bằng một đoạn 2 câu như thế nhưng tác giả đã chuyển tải 6 lời ca mang nội dung khác nhau để kể về chuyện tình cô lái đò Bến Hạ. Cách cấu trúc này gần với dân ca một làn điệu nhưng được hát nhiều lời khác nhau. Thủ pháp này được tác giả sử dụng nhiều trong các ca khúc khác. Trong ca khúc “Trăng rụng xuống cầu” sự mô phỏng lên quãng bốn không phải giữa câu 1 và 2, mà giữa đoạn một và đoạn hai:
          Thí dụ 5.
          Thủ pháp chuyển hệ thang âm được sử dụng càng khéo léo hơn trong bài “Duyên quê”. Giọng chủ là Rê thứ tự nhiên nhưng giai điệu chỉ tiến hành trên trục chính thang 5 âm: rê – fa – sol – la – đô (không có âm mi, âm sib chỉ thêu ở thì yếu của phách):
          Thí dụ 6.
Qua đoạn II, xuất hiện hóa biểu mới của giọng sol trưởng (fa#), nhưng thực tế không phải có sự chuyển điệu qua bậc IV trưởng, mà tác giả chỉ chú trọng việc thay đổi màu sắc bằng đặc điểm quãng 3 trưởng đi xuống từ âm chủ (rê – si bình - la…) thường thấy trong dân ca, nhất là dân ca Nam Bộ.
          Thí dụ 7.
           v.v...
- Ngoài hai yếu tố bổ trợ trên, việc vận dụng thang 5 âm trong dân ca Việt Nam vào ca khúc mới, tác giả đã tạo nên sự gần gũi với nhạc ngữ dân tộc.  Bởi thang âm là yếu tố chủ yếu mang lại âm hưởng dân gian trong ca khúc Hoàng Thi Thơ. Sự lựa chọn ngôn ngữ âm nhạc dân tộc trong sáng tác ngững năm 50 ở bối cảnh miền Nam quả thật là hiếm hoi. Nhưng trong số ít đó, không như Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Hữu Ba, Châu Kỳ…ông đã khéo kết hợp, lựa chọn, trang sức cho ca khúc mình những quãng đặc trưng trong thang 5 âm của các điệu hò, điệu lý…Dù không hoàn toàn xây dựng trên thang 5 âm nhưng tác giả khéo léo pha màu đậm hay nhạt khác nhau giữa thang âm bình quân phương Tây và thang âm dân tộc.
Trong ca khúc “Đám cưới trên đường quê” tác giả sử dụng gần như chủ yếu là thang 5 âm: mi - son - la - si – rê. Âm bậc II: fa# chỉ thoáng qua trong một motif vào cuối bài, còn âm đô – bậc VI thì hoàn toàn vắng bóng.
Thí dụ 8.
ĐÁM CƯỚI TRÊN ĐƯỜNG QUÊ
                                                              Hoàng Thi Thơ

Ca khúc “ Chuyện tình cô lái đò Bến Hạ”, trong câu 1 (thí dụ trước) hình thành trên thang 5 âm: rê – fa – son – la – si – rê. Qua câu 2 có chuyển hệ thang âm nên phát sinh thêm chỉ 1 âm với vai trò lướt thoáng qua một lần: âm đô…
Thí dụ 9.
…và kể cả trong bài “Trăng rụng xuống cầu” (thí dụ trước). Đó là cách pha trộn màu sắc mà âm hưởng 5 âm vẫn là chủ đạo. Có thể thấy cách thức trên trong  ca khúc “Duyên quê”, “Tình ca trên lúa”, “Gạo trắng trăng thanh” hoặc “Mấy nhịp cầu tre”, “Rước tình về với quê hương” sau đây:
Ca khúc “Mấy nhịp cầu tre” được viết trên giọng Đô thứ tự nhiên. Trong cả đoạn I, bậc VI (lab) không xuất hiện, bậc III (mib) chỉ xuất hiện trước nhịp kết…Vì vậy, giai điệu chính hầu như được hình thành trên thang 5 âm: Đô - rê - fa - son - sib :
Thí dụ 10.
          Tương tự như thế, ca khúc “Rước tình về với quê hương” theo hóa biểu là giọng Son thứ, nhưng vắng mặt âm bậc VI (mib); âm bậc II (la) cũng chỉ xuất hiện bằng âm lướt, nên trục âm chính vẫn nổi trội lên chất liệu, màu sắc 5 âm: Son – sib – đô – rê – fa:
          Thí dụ 11.                    

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sáng tác rất nhiều thể loại, kể cả những thể loại mang tính nghệ thuật cao như Trường ca, Nhạc cảnh, Nhạc kịch, Nhạc múa và Nhạc phim…nhưng sống mãi với thời gian, tồn tại lâu bền trong lòng công chúng Việt Nam là thể loại ca khúc với dòng nhạc quê hương. Có một ai đó đã nhận xét: …“ ông như nhà nhiếp ảnh tài ba đã ghi nhận toàn vẹn khung cảnh sinh hoạt đầy màu sắc, âm thanh và hồn tính của truyền thống dân tộc hiền hòa nhân ái”…và, như một nhà văn, đồng hương, đồng tộc với nhạc sĩ đã nhận xét:  “…có lần nhân kỳ nghỉ hè về thăm làng, dự một buổi liên hoan văn nghệ ngoài bãi cỏ trước đình làng. Đêm trăng sáng, gái trai làng vui vẻ vỗ tay hát:
Trong đêm trăng, tiếng chày khua. Ta hát vang trong đêm trường mênh mang. Vô đây em, dù trời khuya anh nhớ đưa em về...
“Trong bối cảnh này, tôi bỗng nhận ra rằng bài Gạo trắng trăng thanh này dễ thương lạ lùng. Khó có nhạc sĩ nào tìm được một giai điệu thích hợp với tâm hồn mộc mạc của trai gái làng tôi hơn là những Gạo trắng trăng thanh, Trăng rụng xuống cầu, Duyên quê của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Thuở ấy nếu không có ông, không biết những người bạn trẻ của tôi ở làng Bích Khê sẽ hát nhạc gì?” (Hoàng Phủ Ngọc Phan, (2000), 50 năm văn nghệ, http://www.hoangtocbichkhe.com/)
Điểm xuyết qua một vài yếu tố góp phần làm cho một số ca khúc quê hương của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đậm đà âm hưởng dân gian trên quan điểm âm nhạc học. Dòng ca khúc đã đóng góp một màu sắc đặc trưng vào truyền thống, vào kho tàng ca khúc Việt Nam. Hy vọng, sẽ có một chuyên khảo đầy đủ về sự nghiệp âm nhạc của ông.                                                             
Vĩnh Phúc



Một ca khúc do Tinh Hoa xuất bản.
Khai Trí xuất bản năm 1956

TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tân Nhân (2013), Hồi ký “Tân Nhân & Xa khơi”, Nxb Lao Động.
- Hoàng Phủ Ngọc Phan, (2000), 50 năm văn nghệ,
- Hoàng Thi Thơ (1956), Để sáng tác một bài nhạc phổ thông, Nxb Khai Trí, SG.
- Du Tử Lê (2010), Hoàng Thi Thơ, xuất hiện như một cơn lốc lớn, http://www.saungon.net/
- Du Tử Lê (2010), Hoàng Thi Thơ: Con beo gấm của những vùng trời nghệ thuật khác, http://www.nguoiviet.com và http://www.saungon.net/.
- Nguyễn Xuân Hoa (2015), 70 năm – một dòng chảy văn học nghệ thuật nối tiếp văn mạch của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế, Tc. Sông Hương, số 319/09-15.
- LH các Hội VHNT Thừa Thiên Huế (2015), Kỷ yếu 70 năm Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (1945 – 2015), Nxb Thuận Hóa, Huế.
- Vĩnh Phúc (2015), Sơ khảo về lịch sử hình thành dòng âm nhạc mới ở Thừa Thiên Huế, Thông báo khoa học, Học viện Âm nhạc Huế, số 11.
- Nhớ nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, www.tuoitre.vn/
- Hoàng Thi Thơ: Ông tiên còn vướng bụi trần, www.dactrung.com
- Tân nhạc Việt Nam - Rước tình về với quê hương, https://dotchuoinon.com
- Hoàng Thi Thơ một nhạc sĩ tài hoa… hoanghuuquyet.vnweblogs.com

-----------------------------------------------

BÀI ĐÃ ĐĂNG
- Trên website Hội Nhạc sĩ Việt Nam

- Tạp chí Nghiên cứu âm nhạc, Viện Âm nhạc, Hà Nội số tháng  năm 2018


Giới thiệu Sách Báo xưa ☛