Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

Tân nhạc Việt Nam - Dẫn liệu từ báo chí, sử sách nửa đầu TK XIX - nửa sau TK XX

Phần I. Sự tiếp xúc ban đầu với âm nhạc phương Tây

                                                                                                                                      Vĩnh Phúc

1. Bối cảnh VN nửa sau TK 19 và đầu TK 20

Theo Lịch sử Việt Nam, thời kỳ Cận đại ở Việt Nam được gọi là thời kỳ Pháp thuộc và đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc (1858 – 1945). Đối với văn hóa Việt Nam, đây là thời kỳ có những biến đổi quan trọng là “chuyển từ văn hóa Đông Nam Á đã Hán hóa một phần sang văn hóa châu Âu lúc này mang tính thế giới. Quá trình ấy diễn ra về mọi mặt sinh hoạt, kinh tế, phong tục… đi từ thành thị đến nông thôn, từ tầng lớp tri thức Âu học đến thành thị”; [1] Đây là thời kỳ chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho, Tây học thay thế Nho học, văn hóa, nghệ thuật châu Âu lấn át văn hóa, nghệ thuật cổ truyền… “Lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện một nhóm người không sống bằng quan hay cày ruộng mà bằng lao động trí óc của mình: dạy tư, viết văn, viết báo, sống bằng chơi nhạc, vẽ tranh, nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật”. [2]

Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng năm 1858, triều đình Huế đã lần lượt để mất ba tỉnh miền Đông Nam kỳ (1862). Sau Hiệp ước Giáp Tuất tháng 3 năm 1874, toàn bộ Nam kỳ đều đã trở thành thuộc địa của Pháp, triều đình Huế đã phải chấp nhận chủ quyền của Pháp trên phần đất từ phía nam Bình Thuận trở vào, cho phép tự do truyền đạo, thương nhân các nước tự do đến buôn bán, xây dựng, người Việt tự do sang Pháp và các nước thuộc địa của Pháp làm ăn, sinh sống…

Mặc dù vẫn duy trì được chủ quyền ở những phần đất từ Bình Thuận trở ra, nhưng triều đình càng ngày phải từng bước thỏa hiệp, phải chấp nhận nhiều thay đổi về thể chế, tiền tệ, tài chính, thuế khóa, thương mại, luật pháp, giáo dục… Theo đó, tất cả các giấy tờ, văn bản hành chính như công văn, nghị định, quyết định, bản án, lệnh… đều viết bằng mẫu tự la-tinh, tức chữ Pháp hay Quốc ngữ, chứ không còn viết bằng chữ Nho; Từ năm1865, tờ báo tiếng Việt bằng thứ chữ mới, phiên âm theo mẫu tự la-tinh, lần đầu tiên được phát hành tại Sài Gòn là Gia Định Báo. Trên Gia Định Báo số 4, ngày 15-4-1867, Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký)  đã viết một bài khuyến khích việc học thứ chữ mới… Tại Nam kỳ trong thời kỳ này, bên cạnh chữ Pháp, từ đây quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức được sử dụng trong các trường học, công sở và báo chí.

                Gia Định báo số 26 năm 1890

Sự ra đời và truyền bá chữ Quốc ngữ mọi nơi, trong các trường học, đã giúp cho người Việt Nam tại Nam kỳ, dễ dàng học hỏi, nghiên cứu khi tiếp xúc với văn hoá, nghệ thuật phương Tây qua sách báo…

Như vậy, tại Nam Kỳ, bên cạnh chữ Pháp, quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức được sử dụng giao dịch hành chính. Năm 1895 – 1896, một công trình quốc ngữ quan trọng đầu tiên do người Việt biên soạn, là bộ Đại Nam quốc âm tự vị của Huình Tịnh Của (Paulus Của) phát hành tại Sài Gòn.


Văn học mới, văn học chữ quốc ngữ, một số thể loại văn học theo phương pháp phương Tây từng bước được hình thành, ban đầu là ở Nam Kỳ, trên Gia Định Báo. Đầu tiên là thể ký của Pétrus Ký năm 1876: “Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi”, và người tiên phong trong thể loại tiểu thuyết quốc ngữ là Nguyễn Trọng Quản, năm 1886 với “Thầy Lazaro Phiền”. 

 Những năm đầu thế kỉ XX, tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ ở Nam kỳ mới có thêm các tác giả như: Lê Hoàng Mưu với Giọt máu chung tình  và Hồ Biểu Chánh với Cay đắng mùi đời, Tỉnh mộng, Nhơn tình ấm lạnh… Trong khi đó, ở Bắc kỳ - Hà Nội có Phạm Duy Tốn với Sống chết mặc bay (1918), Nguyễn Trọng Thuật có Quả dưa đỏ (1925), Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách…

Về âm nhạc phương Tây, sáu tỉnh Nam Kỳ sau 1874 đã là thuộc địa của Pháp. Bên cạnh văn học phương Tây, mà chủ yếu là Pháp, thì âm nhạc cũng được truyền bá vào vùng đất này. Có thể, ban đầu chủ yếu phục vụ cho việc truyền đạo của các nhà Dòng Công giáo, cũng như phục vụ nhu cầu giải trí cho quân đội, chính quyền thuộc địa… như các ca khúc phổ thông châu Âu,  các thể loại nghi thức như dàn nhạc kèn đồng của quân đội, và nhất là quốc ca Pháp (bài Marseillaise) có mặt hầu hết trong bộ máy hành chính của chính quyền thuộc địa… Qua đó, người dân, nhất là thanh niên thuộc địa đã nhanh chóng tiếp thu ngôn ngữ thể loại âm nhạc mới lạ, và đã vận dụng vào dòng nhạc cổ truyền và sân khấu cổ truyền của mình sau này. Từ năm 1915, tại Nam Kỳ, một danh cầm ở Vĩnh Long là Trần Quang Qườn đã “lập ra hội nghiên cứu và sáng chế thời nhạc, chìu theo thời gian mà phát minh bài bản mới lạ thêm” [3]…

@

Sau thất thủ kinh đô (08 - 1885) thực dân Pháp chính thức đặt bộ máy cai trị trên toàn đất nước ta, bắt đầu cho giai đoạn suy thoái của vương triều nhà Nguyễn. Đời sống âm nhạc cung đình ngày càng sa sút, lễ lạc triều nghi ngày càng bị giảm thiểu…Trong làn sóng Âu hóa (từ sau hiệp ước Patơnốt - 1884), ở Việt Nam đã hình thành nên một số đô thị mới, tạo ra con người đô thị và lối sống đô thị. Vì vậy, người dân, nhất là thanh niên đô thị có điều kiện để gần gũi, tiếp xúc với những loại hình văn học nghệ thuật mới từ châu Âu, mà chủ yếu là Pháp.... nhưng những thay đổi lớn trong lịch sử và văn hoá Việt Nam chỉ thực sự diễn ra vào đầu thế kỷ XX. Sự biến chuyển lớn trong văn hóa diễn ra từ Nam đến Bắc, từ đô thị đến nông thôn; Từ ăn ở, sinh hoạt đến các phương tiện giao thông; Từ thơ Đường sang thơ mới và từ văn vần sang văn xuôi, từ chữ Hán, chữ Nôm đến chữ Quốc ngữ,... như nhận định của GS. Nguyễn Thụy Loan:… “vào đầu thế kỷ XX, cuộc xâm lăng toàn diện của thực dân Pháp ở nước ta đã gây nên những biến động lớn và sâu sắc trong toàn bộ xã hội Việt Nam”… “sự du nhập những luồng tư tưởng mới, những lối sống thị dân của phương tây… Cuộc xung đột giữa “phái cũ” và “phái mới”, giữa Nho học và Tây học đã diễn ra gay gắt ở các đô thị”… “Nhu cầu tiếp xúc với văn hóa, học thuật mới ngày càng cấp thiết dẫn tới sự thắng lợi của phái Tây học” [4] 

Mặc dù văn hóa nghệ thuật phương Tây đã thâm nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX, nhưng đến nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, với chiến dịch “bình định về tinh thần” của Pháp thì văn hóa Pháp và phương Tây mới thực sự ồ ạt tràn vào Việt Nam một cách mạnh mẽ tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế,… Trong chiến dịch xâm nhập về văn hóa, GS. Nguyễn Thụy Loan đã tóm lược tiến trình âm nhạc Âu tây du nhập vào nước ta: … “Từ khắp mọi ngả, với “người đi tiên phong” là âm nhạc của đạo Thiên chúa, các đội kèn đồng của quân đội viễn chinh cũng như của các đạo quân thuộc địa do thực dân Pháp tổ chức và huấn luyện, những giờ dạy hát trong các trường tiểu học Pháp – Việt, phong trào ca hát trong hướng đạo,… các phương tiện truyền thanh, máy hát, đĩa hát, màn ảnh,… những tốp nhạc trong các phòng trà, tiệm nhảy, những đoàn nghệ thuật… những sách vở dạy nhạc và các lớp huấn luyện âm nhạc tư cũng như công” [5] … Bằng những con đường này, âm nhạc Pháp đã “xối xả” tràn vào Việt Nam.

Việc thành lập Liên bang Đông Dương năm 1900 đã củng cố địa vị chính trị của người Pháp trên sáu xứ Trung, Nam, Bắc kỳ, Campuchia, Lào… nhưng chính quyền Bảo hộ vẫn phải đối diện với sự phản kháng liên tục bằng võ lực của các phong trào yêu nước của người Việt từ 1900 đến 1917…như  Phong trào Duy Tân (1900-1908); vụ Hà Thành đầu độc (1907); Trung Kỳ dân biến (1908); Việt Nam Quang phục Hội (1912); Duy Tân bôn tẩu (1916) và Khởi nghĩa Thái Nguyên (1917).

Trong khoảng thời gian đó, người Pháp tìm cách vô hiệu hóa sự chống đối bằng một chính sách mới. Đó là thay vì viễn cảnh thống trị vô hạn định, thực dân Pháp vẽ ra một tương lai mới với địa vị nước Pháp dìu dắt và khai hóa dân tộc Việt bằng chính sách “Pháp Việt Đề huề”,[6] là một chiến dịch “bình định về tinh thần” đối với người Việt, nhằm ổn định chính trị và huy động sức người, sức của của Việt Nam phục vụ cho “mẫu quốc”, phục vụ cho  chiến tranh đế quốc.

Trong chiến dịch “bình định về tinh thần” này, thực dân Pháp chủ trương dùng văn hóa để “khai hóa” như mở một số trường Cao đẳng và Đại học; khuyến khích sự “cải lương” trong các lĩnh vực, trong đó có văn hóa, nghệ thuật (gồm văn chương, mỹ thuật, sân khấu và âm nhạc). Từ 1902 đến 1922, Pháp đã đào tạo được một lớp tri thức cao cấp kiểu Tây ở Việt Nam. Một tầng lớp công chức, tri thức mới xuất hiện, cũng làm xuất hiện một đội ngũ nhà văn mới…, chủ đích là lôi cuốn giới thượng lưu người Việt phục vụ trong guồng máy cai trị của Pháp.

Đông Dương tạp chí (1913), báo Nam Phong (1917) và hội Khai Trí Tiến Đức (1919)[7]… là những dự án của chính quyền được thực hiện về mặt văn hóa. Thời kỳ này, văn hóa nghệ thuật phương Tây du nhập nước ta, trong đó có nghệ thuật âm nhạc. Công chúng đa số còn bở ngỡ với loại âm nhạc mới lạ này, nhưng vẫn có nhiều người tiếp xúc, tìm hiểu, nghiên cứu, bắt đầu học đánh đàn rồi từ từ đi vào lý thuyết. Số người này phần đông là thanh niên, học sinh sống gần hoặc trong những đô thị có nhiều cơ hội học nhạc Tây phương qua trường lớp, sách báo, phim ảnh, băng đĩa, các đoàn nghệ thuật…  Trong khi âm nhạc cổ truyền của ta chưa được đặt thành lý thuyết ký âm, hát thì truyền khẩu, đàn thì truyền ngón, còn âm nhạc phương Tây đã có lý thuyết giảng dạy, ký âm khoa học, phương pháp hướng dẫn rõ ràng được in thành sách nên hấp dẫn tầng lớp thanh niên đô thị trong việc tự học, thưởng thức, nghiên cứu và thực hành âm nhạc…

Không những trong lĩnh vực nghệ thuật âm nhạc, trước làn sóng Âu hóa tại các đô thị Việt Nam, nhu cầu tiếp xúc với các loại hình nghệ thuật mới, việc cải cách, cải lương sân khấu cũng được đề xuất một cách tích cực. Đó là chèo văn minh (1913), chèo cải lương (1923); Sân khấu tuồng (hát bội) cũng được cải cách về mọi mặt, từ nghệ thuật biểu diễn đến nội dung, đề cập đến những vấn đề xã hội đương thời… kéo dài từ 1917-1935 với tuồng tân thời, tuồng tiểu thuyết…

Ở Nam kỳ, sự cải cách tuồng hát bội đã ra đời một loại hình sân khấu mới là sân khấu cải lương (1917), kéo theo đó là sự ra đời của sân khấu ca kịch Huế (1920) và ca kịch bài chòi ở Nam Trung bộ (1934)…

                                                      @

Trong bối cảnh âm nhạc phương Tây ồ ạt thâm nhập vào trong đời sống, sinh hoạt các đô thị, đã nảy sinh nhiều ý kiến khác nhau của các học giả có tâm huyết. Trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, báo Nam Phong đã chủ trương cho đăng tải những bài báo liên quan đến việc ủng hộ vấn đề cải cách nghệ thuật của phái Tây học. Trong lĩnh vực âm nhạc, tiêu biểu là học giả Đồ Nam với bài “Ta phải nên cải cách âm nhạc thế nào?” đã nêu quan điểm của mình về cái cũ và cái mới trong âm nhạc. Sau khi nêu sự nghèo nàn, ấu trĩ của nhạc cụ cổ truyền, như kèn thì chỉ “tò-le tí-toét điếc tai người nghe”, đàn thì “cà kho cá kho lè-nhè”…Tác giả kết luận:… “Ngày nay đã sẵn có bộ kèn trống Thái-Tây, hình-thức tinh-xảo mà cách dùng về tinh-thần cũng hoàn-mĩ. Ta vừa dùng để bổ-khuyết vào cho bộ âm-nhạc công-chúng của ta, vừa bắt-chước cái chỗ tinh-thần ấy mà cải-cách”… “Bộ kèn trống Thái-Tây thổi đánh nhẹ mà tiếng to và êm, không có cái giọng nhấm-nhẳng kè-nhè”…[8]  Về Ca trù, tác giả có ý kiến: … “Đàn để giúp cho câu hát thì cô đào nên tập thêm lấy đàn tranh, đàn tàu, đàn tây, đàn thập-lục, vừa hát vừa gảy…cái cách cô đào ngồi sệp gõ sênh như băm mắm, chú kép bê cái đàn dài lệ-khệ ngồi bên cạnh thì trông thực chướng mắt”.[9] Sau khi đề cập một loạt sự nghèo nàn, lạc hậu về hình thức, nội dung của âm nhạc cũ, tác giả kêu gọi: “Vậy nay những nhà âm-nhạc-học có tài thẩm âm lựa vận, cần phải đặt ra những nhạc-khúc mới, đặt ra những ca-khúc mới”…[10]

Trong bài “Luận bàn về âm nhạc nước nhà” trên Tân Văn tuần báo Sài Gòn, năm 1935, Trần Quang Qườn cũng cho rằng: … “Mácxâye của Pháp nghe hoài không nhàm, đờn chừng nào càng thấy phấn khởi tâm hồn của con người chừng nấy… Cứ xem gương Âu Mỹ, người ta có thể lợi dụng âm nhạc để thúc giục quân lính ra trận mạc, cho đến không biết sợ cái “chết” là gì; chớ còn như âm nhạc An Nam thì chỉ có cách gây hại thêm cho tồi phong bại tục, làm cho quốc dân trở nên nhu nhược ươn hèn…nó nảo nuột âu sầu quá đổi, làm cho ai nghe qua cũng phải buồn mướn sầu vay mà mơ màng theo mộng ảo hư vô” [11]… Điều này trước đó 10 năm, trên Đông Pháp thời báo, ngày 4/3/1925, Nam Kiều với bài “Ca nhạc Tây và ca nhạc ta” cho rằng trong lúc nhạc Việt quá yếu đuối và tỏ ra thiếu ý chí, nhạc Tây là “mạnh mẽ phấn chấn” và làm cho người ta muốn “nở rộng phổi ra, như nâng cao người lên”.

Cung Giủ Nguyên, cũng trên Tân Văn tuần báo năm 1935 lại thực tế hơn, khi đề cập đến việc ứng dụng phương pháp ký âm phương Tây trong việc soạn bản đàn mới: “Một người Pháp có thể đờn bản đờn Nga, người Đức đọc bản Anh v.v…là vì họ đều dùng một thứ chữ đờn. Cũng bởi chúng ta không có chữ đờn như người Âu cho nên họ không thể biết rõ cái đẹp của âm nhạc ta… Vậy, tại sao các tài-tử ta không dùng chữ đờn tây?... sự cải cách ấy đã không hại gì cho âm nhạc, mà giúp nhiều điều tiện lợi, nhứt là sự soạn bài đờn. Làm vậy là phổ thông được âm nhạc Việt-Nam, …đám thanh niên ta bây giờ, đang hăng hái với hy-vọng này, lý tưởng kia, đang có quan niệm mới đối với cái đời mới, cần phải có điệu đờn khác để hòa hợp tâm hồn với hoàn cảnh…” [12]

Nhưng cũng trong năm đó, trên Tràng An báo, số 16 tháng 4, Tiêu Diêu Tử lại ưu tư khi đặt vấn đề “Đông, Tây có thể gặp nhau ở những bài hát hay khúc đờn không?”: “Một điều ai cũng nhận thấy là thiếu niên ngay nay khuynh về âm nhạc tây. Từ lớn chí bé phần nhiều ai cũng biết hát tây. Hát tây đã thành một cái dịch”… “Theo ý tôi thì hai lối hát tây, nam không thể dung-hòa với nhau được… “Nhứt là không nên dung hòa âm nhạc tây với âm nhạc ta cũng như không nên xen mấy bài hát Tây vào giữa những bài hát ta”[13] Trên đây chỉ là hai quan điểm có tính chất đối lập trong vần đề sử dụng âm nhạc phương Tây trong sinh hoạt âm nhạc nước ta thời bấy giờ…

2. Sự tiếp xúc ban đầu với âm nhạc phương Tây

Sự tiếp xúc ban đầu với âm nhạc phương Tây, như đã đề cập ở trên, gồm bằng những con đường sau: Âm nhạc Công giáo; Dàn nhạc Kèn nhà binh; Các sơ sở giảng dạy âm nhạc tư nhân; Các đoàn Tạp kỷ, phòng trà; Phim ảnh, đĩa hát, đài Phát thanh và Phong trào Hướng đạo… đã ảnh hưởng đậm, nhạt khác nhau trong việc hình thành Tân nhạc Việt Nam về sau. Qua tư liệu còn lưu trữ, xin lược dẫn tiến trình âm nhạc phương Tây, thông qua Pháp du nhập vào nước ta.

2.1. Âm nhạc Công giáo

Việc người Việt Nam tiếp xúc với âm nhạc phương Tây, sớm nhất, theo GS. Nguyễn Thụy Loan: “người đi tiên phong” là âm nhạc của đạo Thiên chúa [14]… Từ cuối thế kỷ XVI nhiều giáo sĩ và thương nhân người Âu đã đến Đàng Trong và Đàng Ngoài vương quốc Đại Việt. Những nhà truyền giáo, trong đó có giáo sĩ Alexandre de Rhodes (đến Trung kỳ năm 1625), là người có công lao trong việc kế thừa và hoàn thiện chữ quốc ngữ cho Việt Nam. Những nhà truyền giáo cũng là những người đầu tiên giới thiệu âm nhạc Tây phương ở Việt Nam; những bài ca nghi lễ được hát bằng tiếng Latin nhưng về sau đã được dịch và hát bằng tiếng Việt; đã dạy những con chiên Việt Nam hát theo lối nhạc phương Tây là những bài thánh ca… Loại nhạc này dù chỉ giới hạn trong phạm vi cộng đồng Công giáo, không tác động nhiều đến công chúng trong việc tiếp xúc với âm nhạc châu Âu thời bấy giờ.

Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi Pháp đã thống trị toàn bộ đất nước ta thì hoạt động công giáo có điều kiện và phát triển nhanh, mạnh với số lượng giáo dân ngày càng tăng thêm nhiều; Các dòng tu, chủng viện, nhà thờ, trường Công giáo… được phép thành lập khắp Trung kỳ và Bắc kỳ. Các chủng viện, các trường Công giáo… ngoài việc giảng dạy kiến thức giáo lý, văn hóa còn chú trọng đến giờ dạy học âm nhạc, dạy học vẽ… Con cái các gia đình ngoại đạo cũng được theo học tại các trường này. Học sinh muốn học thêm nhạc cụ như piano, violon… cũng được các thầy có chuyên môn hướng dẫn. Giảng dạy và thực hành âm nhạc rất được chú trọng, đề cao trong chủng viện,  trong các cơ sở đào tạo của Công giáo.

Âm nhạc Công giáo không chỉ xuất hiện trong việc cử hành nghi thức của Nhà thờ, mà còn diễn ra ngoài phụng vụ như các giờ cầu nguyện và biểu diễn nghệ thuật nơi công cộng…Trong Hiến Chế về phụng vụ Thánh của Công Đồng Vaticanô II, chương VI, khoản 119 có đề cập đến sự tôn trọng sự phát triển truyền thống âm nhạc của các xứ truyền giáo: “… nhất là các xứ Truyền Giáo, có những dân tộc sẵn có một truyền thống âm nhạc riêng… Tại những nơi này, phải quý trọng âm nhạc ấy đúng mức, và dành cho nó một địa vị thích hợp… Do đó, khi huấn luyện âm nhạc cho các vị Thừa Sai, phải hết sức lo lắng để họ có thể phát triển truyền thống âm nhạc của các dân tộc này, được chừng nào hay chừng đó, trong các trường học cũng như trong các hoạt động phụng vụ”[15]…là điều kiện pháp lý của giáo hội trong việc bản địa hóa Thánh nhạc. Nhiều nhạc sĩ tiếng tăm thời kỳ đầu như nhạc sĩ Lưu Quang Duyệt và về sau là Nguyễn Văn Giệp, Nguyễn Hữu Hiếu, Phạm Đăng Hinh và kể cả Đinh Ngọc Liên, Đặng Thế Phong [16] v.v… đều xuất thân từ môi trường này. Chính tại môi trường này, các cha cố, thầy dòng người Việt đã phổ lời Việt vào thánh ca và sáng tác những bài hát lễ được phổ biến rộng rãi trong giáo dân, giáo xứ. Một số bài hát đa âm, đa điệu đầu tiên là bài “Nửa đêm mừng chúa ra đời”…do Phaolo Đạt (Sài Gòn) sáng tác theo phương pháp châu Âu từ khoảng năm 1911 – 1913,[17] một thầy dòng hoạt động âm nhạc rất tích cực ở Hà Nội năm 1920 là Đỗ Văn Liu đã sáng tác một số bài hát như “Mừng Chúa ra đời”, “Mừng thay Chúa đã sống lại”.[18]

Nhạc sĩ Hùng Lân là người được học hành từ nhỏ tại Nhà Chung,  Chủng viện Hà Nội, nhưng về sau không đi tiếp con đường tu hành, xin rời tu viện ra dạy học và mở lớp dạy nhạc ở nhà. Ông là người đầu tiên có ý tưởng viết thánh ca Việt Nam để thay cho những bài thánh ca Pháp, là một trong những người nòng cốt sáng lập “Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh” năm 1945, với mục đích, tôn chỉ: “Phụng sự Thiên chúa và Tổ quốc” và đường lối sáng tác là  “Cải lương hình thức, duy trì quốc tính”.

Những sinh hoạt lễ nghi của Công giáo hàng tuần, hàng tháng luôn kèm theo ca hát. Các họ đạo, giáo xứ các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Sài Gòn thường có Ban hát lễ trình diễn trong các buổi lễ chầu, lễ rước trọng thể, hoặc trong các hoạt động xã hội khác. Ngoài ra, không chỉ ở thành phố mà ở những họ đạo vùng nông thôn cũng được tổ chức những phường kèn, hội kèn Tây để phục vụ các buổi lễ… Âm nhạc phương Tây thông qua sinh hoạt âm nhạc Công giáo đã tạo cơ hội cho công chúng làm quen dần với một ngôn ngữ âm nhạc mới lạ, khác với các thể loại âm nhạc cổ truyền như hát Chèo, Tuồng v.v… Và quan trọng hơn, là tạo được đội ngũ thực hành âm nhạc Pháp - châu Âu.

2.2. Dàn nhạc Kèn nhà binh

Sau âm nhạc nhà thờ Công giáo, khi Việt Nam trở thành thuộc điạ của Pháp thì công chúng bước đầu được làm quen với ''nhạc nhà binh'' qua những dàn nhạc kèn đồng. Người dân ở thành phố hay làm việc với Pháp thì được biết thêm nhạc cổ điển, nhạc khiêu vũ Tây Phương, các ca khúc phổ thông châu Âu qua phim nói, dần dà được làm quen với nhạc cụ, sách nhạc do Pháp nhập cảng vào Việt Nam.

Từ cuối thế kỷ XIX các dàn nhạc kèn của quân đội viễn chinh Pháp đã có những buổi hòa nhạc tại Nam kỳ, như một buổi hòa nhạc kèn hơi năm 1890:

Chương trình một buổi hòa nhạc của Hội Sĩ quan Trung đoàn 11 Thủy quân Lục chiến Pháp, ngày 30 tháng 10 năm 1890 tại Sài Gòn. Chỉ huy dàn nhạc: F. Nicaise.[19]

Những năm đầu của thể kỷ XX, sinh hoạt âm nhạc trong các đô thị chủ yếu vẫn là âm nhạc cổ truyền, nhưng các buổi biểu diễn âm nhạc phương Tây đã diễn ra tại các đô thị lớn. Tại Hà Nội nhiều chương trình âm nhạc, kịch nghệ được tổ chức phục vụ nhu cầu giải trí cho quân đội, chính quyền cai trị, nhân viên công sở, công nhân làm việc trong nhà máy của Pháp… tại các địa điểm công cộng như nhà Kèn, vườn Bách Thảo…

Một tờ áp phích có in chương trình biểu diễn âm nhạc quân đội của “Trung đoàn Bộ binh Thuộc địa Pháp thứ 9” tại Công viên Nhà Kèn (quảng trường Paul-Bert) và vườn Bách Thảo Hà Nội năm 1904. Nội dung chương trình gồm những thể loại kinh điển trong âm nhạc châu Âu, như: Ouverture, Fantaisie… Đặc biệt, cuối chương trình là một sáng tác mới: hòa tấu “Hanoi, marche triumphale” (tạm dịch: Hà Nội, hành khúc chiến thắng) của tác giả Galerne.   

Tờ Chương trình buổi hòa nhạc của quân đội Pháp, tháng 1 năm 1904 tại Hà Nội. Chỉ huy dàn nhạc: Jourdan. [20]

Một chương trình hòa nhạc khác của đội quân nhạc Pháp năm 1907 được thông báo như sau:

“Các buổi hòa nhạc: Quân nhạc. Mùa đông, ngày thứ tư từ 4 rưỡi đến 5 rưỡi, ở quảng trường Paul Bert, ngày chủ nhật, cùng thời gian ấy ở Vườn Bách Thảo. Mùa hè, ngày thứ ba và ngày chủ nhật, từ 8 rưỡi đến 9 rưỡi buổi tối.
          
Hội nhạc, ở Khách Sạn Xã Hội, ở Hồ Gươm. (Nhiều đêm. Khách ngoại quốc, người đi qua, có thể đăng ký để nhận được lời mời).

Đặc biệt ở Khách Sạn Métropole. Mùa hè và mùa Đông; ở Khách Sạn Hanoi, mùa đông”. [21]

Như vậy, bên cạnh dòng nhạc cổ truyền, Việt Nam lại tồn tại thêm một dòng nhạc Tây, công chúng được tiếp nhận thêm một màu sắc âm nhạc mới, lạ qua sự thể hiện, diễn tấu của những nhạc khí với kỹ thuật chế tác tinh vi, hiện đại như các nhạc khí thuộc bộ Gỗ: Flute, Hautbois, Cor Anglais, Clarinette, Basson; Bộ Đồng:  Cor, Trompette, Trombone, Tuba, Cornet và bộ Gõ: Grosse caisse, Tambour militaire...

 


                    Vườn hoa Paul Bert, còn gọi là vườn hoa Nhà Kèn

Dàn quân nhạc của Pháp tại Hà Nội năm 1912[22]

Ở Trung kỳ, có Tòa Khâm sứ Trung kỳ tọa lạc tại Kinh đô Huế, với số đông quan chức và binh lính Pháp, với hệ thống nhà thờ Công giáo, dòng tu, chủng viện…nên các luồng âm nhạc phương Tây du nhập vào Việt Nam đều có qua Huế và đã đến với đông đảo công chúng, đặc biệt là tầng lớp giáo dân, thanh niên…manh nha từ khoảng năm 1912. Học sinh Công giáo ngoài việc học giáo lý còn được các thầy Dòng người Pháp dạy thêm các kiến thức âm nhạc cơ bản của phương Tây để hát Thánh ca và đệm đàn cho các buổi lễ nhà thờ. Theo Dương Quang Thiện trong Sử liệu lịch sử âm nhạc Việt Nam cho biết những năm đầu thế kỷ XX, người Pháp đã có dạy một số lớp âm nhạc phương Tây tại Huế. “Các sách hát bằng tiếng Pháp và tiếng La Tinh cũng đều có phần dạy ký âm”.[23] Các nhạc cụ phương Tây cũng đã xuất hiện tại Huế như: Mandolin, Violon, Harmonica, Flute…

Cũng vào những năm đầu thế kỷ XX, để củng cố bộ máy cai trị của người Pháp, trong chiến dịch “bình định về tinh thần”, người Pháp đã ồ ạt truyền bá rộng rãi các loại hình văn hóa phương Tây với đủ mọi lĩnh vực vào các đô thị của Việt Nam, trong đó có âm nhạc.

Ngày 11.11.1918, dàn nhạc Kèn hơi nhà binh Pháp tại Trung kỳ được thành lập, trực thuộc Tòa Khâm sứ. Người được giao trọng trách tổ chức sáng lập là ông Bùi Thanh Vân. Nhạc trưởng, chỉ huy dàn nhạc là ông Traineau, Linh mục người Pháp dạy tại trường Bình Linh (địa điểm của Học viện âm nhạc Huế hiện nay). Dàn nhạc được tổ chức thành ba bộ: bộ Gỗ, bộ Đồng và bộ Gõ với biên chế khoảng 64 nhạc công.[24]

Ông Bùi Thanh Vân được giao trọng trách tổ chức sáng lập dàn nhạc kèn, nhưng qua ba cuốn sách nhỏ của ông bằng tiếng Pháp, xuất bản tại Huế trong năm 1922 ở trang bìa thấy đều được ghi là: Bùi Thanh Vân, quốc tịch Pháp. Người sáng lập trường âm nhạc Pháp ở Huế; Người sáng lập trường âm nhạc Quảng Đông (!) ở Huế; Người sáng lập nhà hát nghiệp dư người An nam ở Huế. Tham khảo:




Nguồn: Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque national de France)


        Dưới thời Khải Định (1916 – 1925), năm 1919 nhà vua cho lập một dàn nhạc kèn hơi theo kiểu Pháp để làm công tác đối ngoại, phục vụ cho các nghi lễ do triều đình tổ chức như các buổi đón khách, tiếp sứ…Dàn nhạc thường cử hai bài quốc ca Pháp (Marseillaise) và quốc ca Nam triều… Dàn nhạc kèn hơi này gồm có 35 nhạc công vừa sử dụng các loại kèn của phương Tây và cả nhạc cụ dân tộc do ông Trần Văn Liêu làm nhạc trưởng.
[25]

Vẫn trong thời Khải Định, năm 1920, ở Huế, đội kèn hơi của lính Khố Xanh ra đời. Chỉ huy do người Pháp - ban đầu là Tourneau, rồi sau là Colombo. Đây là những dàn nhạc, đội nhạc chính, chưa kể các đội kèn đồng do các linh mục, các thầy trò trường dòng thực hiện trong các buổi chầu, buổi lễ…

Những dàn nhạc Kèn hơi ở Huế được đào luyện có trình độ chuyên môn khá, nên thường được chọn đi biểu diễn trong các sự kiện lớn trong nước cũng như nước ngoài… Tiêu biểu là việc đổi tên thành dàn nhạc Kèn hơi Nam triều, do nhạc trưởng Fournter chỉ huy để tham gia biểu diễn tại Hội chợ Quốc tế tại Paris 1931 bao gồm các thuộc địa của Pháp. Trong dịp này, dàn nhạc Kèn hơi của Việt Nam, của chính phủ thuộc địa Nam triều đã được trao tặng Huy chương vàng.


Áp phích tại hội chợ quốc tế Paris năm 1931

Dàn nhạc Kèn hơi ngoài phục vụ nghi lễ do Pháp tổ chức, đặc biệt dàn nhạc đã thường xuyên tổ chức các buổi hòa nhạc vào chiều chủ nhật tại "Nhà Kèn" trong vườn hoa trước Tòa Khâm sứ Huế, thu hút rất đông công chúng đến thưởng thức. Chương trình biểu diễn tại “Nhà Kèn” thường là những tác phẩm với nhiều thể loại: cổ điển và lãng mạn của của các nhà soạn nhạc châu Âu như: Mozart, Beethoven, Schubert, Schumann, Bizet, Weber, Tchaikovsky, Chopin, J.Strauss v.v…Các bài hát phổ thông nước ngoài bằng tiếng Pháp như:  J’ai deux amours, La Madelon,…cũng thường xuyên biểu diễn tại nhà Kèn.


Dàn nhạc Kèn ở Huế năm 1936

Trong “Capitales de Légende Hué” - Les Editions d’Indochine. Ảnh: Internet.

 


Các nhạc công trong trang phục lễ binh dàn nhạc kèn do

Pháp đào tạo tại Huế những năm trước 1945.[26]

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), dàn nhạc kèn hơi đổi thành dàn nhạc Kèn hơi chính phủ Trần Trọng Kim, do Phạm Văn Minh chỉ huy…Năm 1945, dàn nhạc kèn hơi đã tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại Thừa Thiên Huế. Đặc biệt, chiều ngày 30.08.1945, dàn nhạc với trên 100 nhạc công đã tham gia phục vụ lễ thoái vị của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam tại kinh thành Huế. Ngày 3.9.1946, trong khuôn khổ kỷ niệm ngày Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại nhà Hát Lớn Hà Nội đã tổ chức một buổi hòa nhạc để đón tiếp khách  nước ngoài. Trong buổi hòa nhạc này, dàn nhạc hơi của Trung bộ đã được điều động để hòa tấu các tác phẩm âm nhạc cổ điển châu Âu: “… Phần thứ nhất: âm nhạc cổ điển tây phương do ban âm nhạc Trung-bộ hòa. Phần thứ hai: âm nhạc Huế do mấy tài tử Huế hòa. Phần thứ ba: âm nhạc Việt-Nam mới do ban âm nhạc Vệ-quốc đoàn hòa”… “Những bản nhạc cổ điển tây phương đã được rất nhiều thính giả ngoại quốc sành nhạc ngợi khen ban âm nhạc Trung bộ hòa với một nghệ thuật điêu luyện”. Trong phần thứ ba, ban nhạc Vệ-Quốc đoàn phụ trách phần âm nhạc mới Việt Nam với 3 bài hát “Con thuyền không bến”, “Giọt mưa thu” (Đặng Thế Phong) và “Thiên thai” (Văn Cao) do cô Bùi Thị Thái hát, Đinh Ngọc Liên chỉ huy ban nhạc. [27]

Không chỉ ở Trung kỳ, ở Bắc kỳ thời kỳ này dàn nhạc kèn hơi của lính Khố xanh người Việt cũng đã được Pháp đào tạo và thành lập (1924), trực thuộc tòa Thống sứ Bắc kỳ. Một thông báo đăng trên Hà thành Ngọ báo ngày 15 tháng 9 năm 1927: “Từ 9 giờ đến 10 giờ chiều hôm nay có một toán lính khố xanh cử nhạc tại nhà kèn vườn hoa Paul Bert”.

Một tấm ảnh của Thư viện Quốc gia Pháp có tiêu đề là Dàn nhạc kèn của người Annam tại Bắc kỳ (Fanfares annamites au Tonkin) nhưng không ghi chú thời gian và địa điểm cụ thể. Tuy nhiên bức ảnh cho thấy đây không phải là dàn nhạc kèn hơi (orchestre d’harmonie) của lính Khố xanh, mà là một ban kèn đồng dân sự, trang phục truyền thống (áo dài, khăn xếp) chụp tại một kiosque âm nhạc theo kiểu Nhà Kèn của Pháp tại các đô thị Việt Nam thời bấy giờ. Có thể đây là đội kèn đồng của một họ đạo Công giáo được một lính kèn nhà binh Pháp huấn luyện. Địa điểm nhà Kèn và dàn nhạc kèn đồng này, khi phóng to bức ảnh, cũng chỉ được biết qua chi tiết dòng chữ ghi trên chiếc trống lớn (Grosse Caisse) là ở Hà Đông, Hà Nội (Fanfare de Ha Dong) và thời gian được ghi trên tấm ảnh có thể là tháng 8 năm 1923:

                   



                                             Dàn nhạc kèn An Nam tại Bắc kỳ. [28]



2.3. Các sơ sở giảng dạy âm nhạc tư nhân
Ngoài sự tiếp xúc với âm nhạc qua dàn nhạc kèn hơi của quân đội Pháp cũng như củalính Khố xanh, 
của các ban nhạc kèn nhà thờ Công giáo được Pháp huấn luyện, đào tạo… thì thời gian này, các gia 
đình công chức Pháp đến làm việc, sinh sống ngày càng đông. Họ có nhu cầu cho con cái được học 
âm nhạc như ở Pháp cũng như nhu cầu tìm hiểu âm nhạc phương Tây của thanh niên bản địa…Vậy 
nên một số cơ sở đào tạo tư nhân hoặc dạy tại tư gia được mở ra trong những năm đầu của thế kỷ XX,
như lớp Violon của bà Sylvie Durand [29] đã dạy Vũ Khánh, Nguyễn Trần Dư (Giư), Đoàn Văn An mà
về sau là thành viên của nhóm nhạc Myosotis, mà nòng cốt là Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước; Tiêu 
biểu là Viện Âm nhạc Hà Nội (Institut Musical de Hanoi), thành lập năm 1913, một Trung tâm âm nhạc
do một nữ giáo viên đàn piano người Pháp làm hiệu trưởng - bà Mlle Y. Périé-Poincignon.[30] Viện này
dạy chỉ gồm bộ môn Piano, Thanh nhạc, Hòa âm, Sáng tác, xướng âm và các điệu nhảy. Những năm đầu
học viên chỉ có người châu Âu, đến những năm 1930 bà Périé mới dạy đàn piano cho rất nhiều học sinh

 người Việt, Trong đó có Tô Anh Đào, (vợ Thẩm Oánh), Dương Thiệu Tước…


                                            


Annuaire général de l'Indochine 1918, Partie commerciale (Hanoi: Imprimerie d'Extrême Orient, 1918)

Bà MlleY. Périé sau này, năm 1927 được nhà nước thuộc địa chính thức bổ nhiệm dạy âm nhạc một số trường tại Hà Nội, trích:

DẠY ÂM-NHẠC

Melle Périé được cử vào dạy âm-nhạc trong ngạch Học-chính ; các thì-giờ dạy học trong các trường kể ra như sau này :

Mỗi tuần lễ dạy hai giờ trong trường Nam-sư-phạm Hanoi ; hai giờ trong trường nữ sư-phạm ; ba giờ trong trường cao-đẳng tiểu-học Pháp…[31]

Một bức hình chụp một buổi học hát với cô giáo Pháp của nữ học sinh Hà Nội xưa với tiêu đề: Jeunes filles indigènes au cours de chant [32] (Tạm dịch: Những cô gái trẻ bản địa trong một buổi học hát)


Tháng 1 năm 1927 Toàn quyền Đông Dương đã cho thành lập Nhạc viện Pháp tại Viễn Đông (Conservatoire Française d’Extrême - Orient) đặt tại Hà Nội. Theo ý của tác giả Michael E. McClellan trong “Music, education and Français de Couleur: Music instruction in Colonial Hanoi” thì  người Pháp sử dụng nghệ thuật âm nhạc làm một phần của nỗ lực của họ để thiết lập sự kiểm soát đối với dân bản địa, điển hình của quá trình này là việc thành lập tại Hà Nội một Nhạc viện Pháp ở Viễn Đông. [33]

Nhạc viện Viễn Đông mở ra với nhiều bộ môn phong phú về nhạc cụ cũng như các môn kiến thức của lý thuyết âm nhạc. Nhưng thực tế nhạc viện chỉ dạy 4 loại đàn: piano, violon, violoncelle, contrebasse và môn ký xướng âm. Học sinh theo học tại đây có cả người Pháp, người Việt và một số người Lào. Số học viên người Việt đầu tiên có Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Quang Duyệt, Phạm Đăng Hinh, Nguyễn Văn Giệp, Nguyễn Hữu Hiếu, Mộng Chi, Phạm Huy Quỹ, Hùng Lân… Nhạc viện  chỉ tồn tại 3 năm (1927-1930). Nguyên nhân được cho là do cuộc khủng hoảng kinh tế vào những năm 1930 ở Pháp. Sau khi Nhạc viện Viễn Đông đóng cửa, tại Hà Nội các học viên tự thành lập những cơ sở giảng dạy và biểu diễn truyền bá âm nhạc phương Tây, tiêu biểu như: Hội Khuyến Nhạc của Nguyễn Văn Giệp, Nhạc Đường Học Xá của Lưu Quang Duyệt, lớp dạy đàn violon của Phạm Đăng Hinh, lớp Violon, Violoncello, Hòa âm của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát [34] và sau đó là các lớp dạy guitare của Dương Thiệu Tước, Doãn Mẫn…



Những học viên của các cơ sở đào tạo trên về sau đều là những nghệ sĩ biểu diễn thành danh tại Hà Nội. Tháng 5 năm 1939, tại Nhà hát lớn Hà Nội,  “Việt Nam nghệ sĩ đoàn” của Đàm Quang Thuận đã tổ chức buổi ca nhạc dẫn giải quy mô, giới thiệu hai nghệ sĩ violon và piano là Nguyễn Văn Giệp và Nguyễn Hữu Hiếu cùng hàng chục nghệ sĩ đoàn phụ họa trình bày các tác phẩm nổi tiếng của âm nhạc phương Tây.


Thông báo trên báo Ngày Nay số 161, ngày 13/5/1939

Tại Sài Gòn, từ năm 1925 đã có mở trường dạy âm nhạc của các giáo viên người nước ngoài, được gọi là “École de Musique de Saigon”, cũng thường được gọi là Philharmonique (hội yêu nhạc, hội khuyến nhạc) huấn luyện nhiều nhạc công Việt Nam biểu diễn nhạc cổ điển châu Âu… Năm 1928 có thành lập một tổ chức biểu diễn nghệ thuật là Ủy ban Nghệ thuật Sài Gòn (Comité artistique de Saigon) do một người Pháp phụ trách, thường tổ chức những buổi hòa tấu thính phòng. Năm 1933, Ủy ban này thành lập một cơ sở đào tạo gọi là Nhạc viện (Conservatoire de musique) để dạy một số nhạc cụ phương Tây, song cũng không tồn tại được lâu dài…

2.4. Đĩa hát, phim ảnh, sách báo, đài phát thanh và biểu diễn âm nhạc.

Khi âm nhạc phương Tây theo chân người Pháp vào Việt Nam, để phục vụ vui chơi giải trí cho bộ máy hành chính, quân đội chính quốc và thuộc địa, một số người Pháp và Việt đem trình diễn các nhạc phẩm phương Tây trong các phòng trà, vũ trường, khách sạn, rạp hát, các buổi họp mặt, lễ tân, liên hoan...

Ngay từ những năm 20 trở đi, một số công chúng có điều kiện ở các đô thị lớn ở Việt Nam đã được tiếp xúc âm nhạc phương Tây qua các cuộc lưu diễn của các đoàn, nhóm nghệ thuật, các gánh hát tạp kỹ của Pháp, của nhiều nước Âu tây. Tác phẩm của các tác giả cổ điển, lãng mạn…được trình tấu bởi những nghệ sĩ nổi tiếng thế giới, những ca khúc thời thượng đang thịnh hành của Pháp… đã có ảnh hưởng không nhỏ trong thanh niên, trí thức Tây học các đô thị;  là chất men xúc tác thôi thúc họ tìm tòi, học hỏi để cảm thụ và đi đến thực hành âm nhạc phương Tây qua tự học hoặc nhà trường. Tại Hà Nội, tiêu biểu là nhóm nhạc Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Hữu Hiếu, Nguyễn Văn Giệp, Phạm Đăng Hinh, Lê Yên, Doãn Mẫn, Nguyễn Đình Phúc, rồi Lương Ngọc Châu, Văn Chung, Thẩm Oánh, Dương Thiệu tước… chuyên trình diễn các tiểu phẩm khí nhạc cổ điển và lãng mạn cũng như nhạc thời thượng của Pháp như thể loại nhạc nhẹ, nhạc Jazz gắn với các tiết điệu Tango, Valse, Rumba, Slow-fox… trong các quán nhạc, phòng trà, vũ trường v.v…

Những năm 1920 và 1930 cũng là lúc những phương tiện truyền thông như bản nhạc, đĩa thu thanh, máy hát, phim ảnh và đài phát thanh vào Việt Nam.


      Quảng cáo máy hát đĩa hát Pathé trên Lục Tỉnh Tân Văn, Sài Gòn số 516, 1-1918

 



   Quảng cáo trên Ngọ Báo, tháng 4-1929

      Trên Phụ Nữ Tân Văn, tháng 5-1929

 



     Trên Phụ Nữ Tân Văn, tháng 7-1930

         Trên Khoa Học, tháng 10-1933


Đến khoảng giữa thập niên 1930, khán giả Việt Nam mới được xem phim nói, là phim có âm thanh. Nhưng khi đó, để xem được phim nói, chỉ giới trí thức, sinh viên, học sinh trung học mới nghe được 
tiếng Pháp và đọc được phụ đề Pháp ngữ. Những năm cuối thập niên 1930, Việt Nam hình thành một lớp trí thức mới, tiếp thu văn hóa Pháp, nhiều phong trào nghệ thuật nở rộ, trong đó có âm nhạc. Phim nói của Pháp, đồng bộ cả hình ảnh và âm thanh được du nhập vào nước ta.


Quảng cáo trên báo Nhật Tân, Hà Nội, tháng 11-1934


Trên Nhật Tân, 1934

Các loại máy hát, đĩa hát của các hãng Victor, Columbia, Pathé, Béka, Odéon... đã tràn vào Việt Nam. Ngoài các đĩa hát thu các làn điệu dân ca, tuồng tích, chèo, cải lương, ca Huế, các nhà kinh doanh Pháp còn cho nhập các đĩa hát thu âm các tác phẩm khí nhạc và thanh nhạc của châu Âu, trong đó nổi bật là ca khúc nhạc nhẹ, bài hát phổ thông phương Tây với các giọng hát nổi tiếng bấy giờ như Tino Rossi, Joséphine Baker, Rina Ketty... mà thanh, thiếu niên Việt Nam từng ái mộ qua các bộ phim nói. Qua phim nói, công chúng Việt Nam cũng được tiếp xúc với tác phẩm của các nhà soạn nhạc nổi tiếng châu Âu như  F.Schubert với loại nhạc không lời như bản “Giao hưởng dở dang”, các ca khúc nghệ thuật như Sérénade, Ave Maria,… nhạc sĩ J.Strauss với các vũ điệu Valse thành Viên nổi tiếng như The Blue Danube (Dòng Danube xanh), Tales from the Vienna Woods (Khu rừng thành Viên) v.v… Tại Sài Gòn, những năm 1931, 1932 trong hệ thống đài phát thanh Đông Dương, đài phát thanh Sài Gòn (Radio-Saigon) ngoài chương trình phát thanh định kỳ nhạc cổ truyền là hát cải lương và đờn ca tài tử, còn có chương trình biểu diễn nhạc cổ điển châu Âu của dàn nhạc “Đài phát thanh Sài Gòn”, trích:



Trên: Chương trình âm nhạc Annam; Dưới: Programme des Concerts du 4 janvier au 14 Février 1932 par l’orchestre “Radio-Saigon” (Chương trình hoà nhạc từ ngày 4 tháng 1 đến ngày 14 tháng 2 năm 1932 của dàn nhạc "Đài phát thanh Saigon") trong Bản tin hàng tuần của công ty  phát thanh Pháp-Đông Dương, số 74, ngày 7 tháng 1 năm 1932. Nguồn: Thư viện Quốc gia Pháp: https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k9752253/f4.item

Năm 1934, tại Sài Gòn, trong tuần lễ Nhi đồng, một chương trình biểu diễn phục vụ các cháu nhi đồng tại hội quán Annam bằng nhạc cụ phương Tây được giới thiệu:  … “có cô Marcelle Lân, cô Marie Tống đờn piano, cô Florice Vidal và ông Hồ-đắc-Ân đờn violon. Nhà tài-tử Nguyển-văn-Tịnh sẽ trổ hết tài hay đờn violon đủ điệu đủ bản” [35]… Một buổi hòa nhạc từ thiện ngày 29 tháng 4 năm 1936 tại hội quán Hội Trí tri Hà Nội được tường thuật lại trên Hà Thành Ngọ báo chứng tỏ người thuật cũng như người chơi đàn giai đoạn này đã rất sành về âm nhạc châu Âu: … “Muốn đờn những bản nhạc ấy, phải là những bậc kỳ tài. Nhất là bản Ballet Egyptien (à 4 mains) của Luigini đã làm tỏ cái công phu, cái tài năng của cô Vân và cô Hiển những đoạn thay đổi “mouvement” đã nổi hẳn lên nhờ ở “Jeu de Pédal” mà hai cô khéo đồng ý, khiến người nghe chỉ có thể hiểu được là một người đờn” [36]… Cô Vân, là Nguyễn Thị Vân, cô Hiển là Vũ Thị Hiển trong buổi hòa nhạc này đã diễn tấu piano 4 tay. Cô Vũ Thị Hiển, tháng 8/1938 cũng được đoàn Ánh Sáng, báo Ngày Nay mời họa đàn Piano trong buổi chiếu bóng đặc biệt kỷ niệm ngày thành lập đoàn Ánh Sáng.

Thông qua việc giáo dục trong các trường dòng cùng các trường bảo hộ khác và hoạt động hướng đạo, thiếu niên Việt Nam học hát tập thể theo kiểu Tây phương, thanh niên Tây học tiếp cận các nhạc cụ Tây phương như guitar, Hawaiian guitar, mandolin… và bài hát phổ thông phương Tây qua các phương tiện truyền thông đại chúng như đài Phát thanh Đông Dương (Radio Indochine) ở Hà Nội, Sài Gòn và Huế; qua đĩa hát, phim nói Pháp, qua các gánh hát cải lương Nam kỳ… Thanh thiếu niên ở các đô thị học thuộc lòng những bài hát phổ thông mới nhất. Báo chí thời kỳ này đã cho biết: “Một điều ai cũng nhận thấy là thiếu niên ngày nay khuynh hướng về âm nhạc tây. Từ lớn chí bé phần nhiều ai cũng biết hát tây. Hát tây đã trở thành một cái dịch… Trẻ con đi học không mấy đứa không có một quyển sách nhỏ chép các bài hát trong các phim chiếu bóng” [37]…

Ca sĩ người Pháp trên phim nói tạo nên ấn tượng riêng lớn nhất trong sinh viên, học sinh đô thị Việt Nam những năm 1930 là Tino Rossi, với  một giọng hát chứa đầy vẻ lãng mạn. Giống như người Pháp, nam nữ thanh niên Việt Nam thần tượng hoá Rossi và thậm chí đã thành lập hội “ái Ti-nô”. Một số ca khúc của Tino Rossi đã làm mưa làm gió ở Việt Nam là Marinella, ra đời trong bộ phim cùng tên, và C’ét A Capri…



Bìa bản nhạc C’est A Capri in hình ca sĩ Tino Rossi

Ca sĩ Joséphine Baker với bài hát J'ai deux amours, cũng là một bài hát trong phim và bài hát phổ thông Quand Madelon cũng được giới thanh niên mê đắm. Ngoài ra còn thêm nhiều bài hát Pháp vui tươi, dí dỏm xuất hiện trong các buổi sinh hoạt của thanh niên, học sinh sinh viên như Frère Jacques, Au clair de la lune, Vive le chameau,... hoặc bài hát động viên thanh niên như Debout, belle jeunesse của Parmentier... Ở các phòng trà, tiệm nhảy đã phổ biến các vũ điệu như tango, valse, fox-trot,...với những ban nhạc nhẹ hòa tấu…

Âm nhạc phương Tây được giới thanh niên Tây học coi trọng, bởi hệ thống lý thuyết đã được đúc kết một cách khoa học, như phương pháp ký âm, nghệ thuật hòa âm và phối khí v.v… Tầng lớp thanh niên ham mê âm nhạc phương Tây, ngoài những người có điều kiện để theo học các cơ sở đào tạo âm nhạc, còn lại, thường tự học qua tài liệu, sách báo về âm nhạc của Pháp. Những bản nhạc đang thịnh hành, những tuyển tập tác phẩm cổ điển, giáo trình học nhạc cụ và nhất là các tài liệu giảng dạy lý thuyết âm nhạc như hòa âm, phối khí, sáng tác âm nhạc phổ biến thời bấy giờ như: La Musique et Les Musiciens, Cours de Composition Musicale v.v… của các tác giả Pháp như A. Lavignac, E. Durand, F. Marmontel…đều được giới trẻ Việt Nam quan tâm.

 




Trong những con đường du nhập âm nhạc phương Tây qua các phương tiện trên, có một dòng ca khúc trong phong trào cách mạng của nhiều nước  châu Âu từ trước và sau cách mạng tháng Mười Nga, như: Nhà máy đứng lên mau (Đức), Thanh niên xích vệ (Pháp)… Trong đó, kể cả bài Quốc tế ca (L’internationale) ra đời trước đó trong thời kỳ Ba lê công xã 1880… Những bài ca mang tính đấu tranh, hùng tráng theo phong cách hành khúc châu Âu  này đã “có sức lan tỏa sâu rộng trong nước và trong phong trào cộng sản quốc tế… Dòng ca khúc cách mạng trên đã thâm nhập vào các thành thị và nông thôn Việt Nam thời thuộc Pháp thông qua sách báo bí mật, qua những người cộng sản Việt Nam hoạt động trong nước và nước ngoài”…[38]

2.5. Âm nhạc phong trào Hướng Đạo

Hướng đạo Việt Nam được thành lập chính thức năm 1930, sinh hoạt theo phương pháp giáo dục thanh thiếu niên của Hiệp hội Hướng đạo Pháp. “Nội dung hoạt động của phong trào rất phong phú, mang nhiều tính chất sư phạm, giáo dục bồi dưỡng cho lớp trẻ tính kỷ luật, óc tổ chức, ý thức tập thể, tinh thần vị tha, lòng yêu nước… ca hát chiếm một vị trí quan trọng trong mọi sinh hoạt của Hướng đạo sinh thời bấy giờ” [39] ... Cùng với việc được học âm nhạc, ca hát trong các trường Dòng, trường bảo hộ…thì phong trào Hướng đạo là nơi mà thanh thiếu niên Việt Nam tiếp cận với lối hát tập thể của những bài hát trong phong trào Hướng đạo sinh quốc tế với những bài dân ca Pháp, Scotland như Frère Jacques, Au clair de la lune, La Joie Scoute, Auld Lang Syne, v.v...  Nhiều bài ca hướng đạo quốc tế đã được phổ lời Việt như tập “Đời Vui Sướng” của ông Phạm văn Xung, trưởng đoàn Lê Lợi Hà Nội và tập “Tiếng Chim Ca” của Lưu Ngọc Văn và Đào Văn Thiết đã được xuất bản  từ cuối thập niên 30. Ông Phạm Văn Xung không chỉ soạn lời ta cho điệu Tây, mà còn soạn lời cho giai điệu các sáng tác mới của một số người Việt, như Trần Ngọc Quang trong Hội kịch Bắc kỳ với bài “Đường trường” đăng trên Ngày Nay số 129, ngày 24/9/1938, và bài “Đám mây hàng” của Phạm Đăng Hinh đăng trên Ngày Nay số125, 28/8/1938.

Bài hát hướng đạo là một yếu tố rất có ảnh hưởng trong giáo dục âm nhạc phổ thông đối với những người Việt lớn lên trong những năm 1920 và 1940. Bởi vì, Âm nhạc hướng đạo Việt Nam đề cao những giai điệu trong sáng, vui tươi, lành mạnh, mang tính hành khúc, giáo dục thanh thiếu niên lối sống khỏe, hợp đoàn, yêu thiên nhiên, sông núi… Cho nên, không chỉ khép kín trong các buổi sinh hoạt chính thức của Hướng đạo sinh, mà rất nhiều bài ca vui khỏe đó, đã trở thành những bài ca tập thể trong học đường. Ví dụ: Bài ca Tạm biệt, Vui ca lên, Giờ chơi đến rồi v.v…

Bằng những con đường này, âm nhạc Pháp – châu Âu thâm nhập vào Việt Nam, đã tạo nên những bước đi, tiền đề vững chắc cho con đường hình thành dòng Tân nhạc Việt Nam về sau. Tương tự như âm nhạc Công giáo, phim ảnh… âm nhạc Hướng đạo bắt đầu bằng sự tiếp xúc với các bài hát Hướng đạo nước ngoài, đến việc dịch ra tiếng Việt, rồi soạn lời mới cho các điệu hát ấy (phong trào “Lời ta điệu Tây)  và cuối cùng, là sáng tác bài hát mới của Hướng đạo sinh Việt Nam. Đặc biệt, âm nhạc Hướng đạo Việt Nam đã tạo nên trong lịch sử âm nhạc mới Việt Nam một thể loại Hùng ca, mà những năm của thập niên 40 đã đi đầu trong phong trào sáng tác theo phong trào “Thanh niên – lịch sử”. Tiêu biểu là Hoàng Quý với nhóm “Đồng vọng” bao gồm cả Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Đỗ Nhuận…

                                                        (Hết phần I)



[1]  Phan Ngọc (2000), Một cách tiếp cận văn hóa, Nxb Thanh Niên, tr. 102

[2]  Phan Ngọc, sách đã dẫn, tr. 103.

[3]  Trần Quang Quờn (1935), Luận bàn về âm nhạc nước nhà, Tân Văn, SG, số 38, ngày 4 tháng 5, tr 4.

[4] Thụy Loan (1993), Lược sử âm nhạc Việt Nam, Nxb Âm Nhạc, Hà Nội, tr. 55

[5] Thụy Loan, Sđd, tr. 54.

[6] Pháp Việt Đề huề (Collaboration franco-annamite) là một chính sách của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương bắt đầu vào thập niên 1910 để đối phó với phong trào đối lập của người Việt. Nguồn: https://vi.wikipedia.org

[7] Khai Trí Tiến Đức còn được gọi là hội AFIMA (viết tắt nguyên tên tiếng Pháp của hội l'Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites) là một hiệp hội tư lập với chủ trương giao lưu văn hóa giữa trào lưu Tây học và học thuật truyền thống Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Nguồn: https://vi.wikipedia.org

[8] Nam Phong, số 192/1934, tr. 8

[9] Nam Phong số 194/1934, tr. 244

[10] Nam Phong, số 192/1934, tr. 7

[11] Trần Quang Quờn (1935), Luận bàn về âm nhạc nước nhà, Tân Văn, SG, số 39, ngày 11/5, tr. 4

[12]  Cung Giủ Nguyên (1935), Âm nhạc nước nhà, Tân Văn, SG, số 39 ngày 11/5, tr. 15.

[13] Tiêu Diêu Tử (1935), Đông, Tây có thể gặp nhau ở những bài hát hay khúc đờn không?, báo Tràng An, Huế, số 16 ngày 23/4, tr. 2.

[14] Thụy Loan, Sđ d, tr. 54

[15]  Hải Nguyễn, Dân ca & Thánh nhạc. Nguồn: http://lebaotinh.net/forumlbt/showthread.php?t=69

[16] Đặng Thế Phong đã từng học trường dòng L'École St. Thomas D'Aquin ở Nam Định.

[17] Theo linh mục Xuân Thảo phát biểu trong lễ tưởng niệm nhạc sĩ Hùng Lân ngày 16.09.2012 tại nhà thờ Phanxico Dakao, Tp HCM.

[18] Hoàng Dương - Chủ biên, Phạm Tuyên, Hồ Quang Bình, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh (2002), Tân nhạc Hà Nội từ đầu TKXX đến 1945 Hình thành và phát triển, Hội Âm nhạc Hà Nội, tr.40.

[19] Nguồn: Le Courrier de Saigon (30 octobre 1890), tr.4. Thư viện Quốc gia Pháp,

http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5527322j/f4.item

[20] Nguồn: https://www.delcampe.net/en_GB/collectables/programs/indochine-armee-hanoi-programme-21-01-1904-9e-ric-imprimerie-f-h-schneider-160x110mm-bien-a-tb-rrr-275762386.html/

[21] Tonkin du sud: Hanoi - Paris: Comité de l'Asie française, 1907.

Theo http://taybui.blogspot.com/2017/02/musique-hanoienne-am-nhac-hanoi-1907.html

[22] Nguồn: https://www.delcampe.net/it/collections/item/355160113.html

[23]  Dương Quang Thiện (1995), Sử liệu lịch sử âm nhạc Việt Nam, Nxb Viện Âm nhạc và Múa, Hà Nội. Tác giả cũng là một trong những thành viên dàn nhạc kèn của Pháp trước 1945.

[24] Là dàn nhạc kèn hơi hòa tấu (orchestre d’harmonie) có khả năng diễn tấu những tác phâm tương đối quy mô, khác với những ban kèn đồng (fanfare, kèn lệnh) chỉ có một só kèn đồng.

[25] Dương Quang Thiện, Sách đã dẫn  tr.31-34. Xem bản quốc ca An Nam ở bài 4

[26]  Khánh Trang (2007), Từ một bức ảnh xưa, tìm hiểu về dàn nhạc kèn hơi thuộc Tòa Khâm sứ Trung kỳ ở Huế trước năm 1945, Tập san Âm nhạc Huế - Hội Âm nhạc Thừa Thiên Huế, số 4, tr. 44-45. (Trong ảnh có cụ Ngô Văn Lệ (người ngồi bên phải), người làng Lai An, Hương Phong, Hương Trà, Thừa Thiên Huế, thổi kèn Trompette và là một Đội trưởng đội kèn thời Pháp thuộc. Ngày nay các cụ ở làng An Lai vẫn còn nhắc đến cụ Ngô Văn Lệ với cái tên Ông Đội. Ảnh do ông Ngô Viết Hùng, con của cụ Ngô Văn Lệ cung cấp)

[27] Một buổi hòa nhạc tưng bừng, báo Cứu Quốc, ngày 5/9/1946, tr. 1 và 6

[28]  Nguồn: Bibliothèque national de France (Thư viện Quốc gia Pháp) http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b90339391/f1.item

[29]  Sylvie Durand là vợ nhà Ngôn ngữ học, Việt Nam học… Maurice Durand, Viện Viễn Đông Bác cổ Hà Nội.

[30]  Melle Périé là con gái nuôi của Albert Poincignon, người thành lập Conservatoire Français d'Extrême-Orient tại Hà Nội, năm 1927 về sau.

[31] Hà thành Ngọ báo, số 113, ngày 15/09/1927

[32] Ảnh và ghi chú, nguồn: www.delcampe.net/it/collezionismo/cartoline/vietnam/indochine-tonkin-edition-dieulefils-n-3149-jeunes-filles-indigenes-au-cours-de-chant-1490-94757870.html

[33]https://www.researchgate.net/publication/291871988_Music_education_and_Francais_de_Couleur_Music_instruction_in_Colonial_Hanoi

[34] Quảng cáo lớp dạy đàn violon, violoncelle và khóa dạy Thực hành Hòa âm trên báo Ngày Nay số 88 tháng 12 năm 1937 và số 213, 22 tháng 06 năm 2940.

[35] Chương-trình các cuộc chơi trong ngày 5 Julliet 1934, Phụ nữ Tân văn, SG, số 247 ngày 21/6/1934.

[36] Trần Đình Thư (1936), Văn-chương và Âm-nhạc, Hà thành Ngọ báo, số 2601 ngày 14 tháng 5.

[37]  Tiêu Diêu Tử (1935), Đông, Tây có thể gặp nhau ở những bài hát hay khúc đờn không?, Tràng An báo, Huế, số 16, 23 tháng 4, tr. 2.

[38] Hoàng Dương (Chủ biên-2002), Tân nhạc Hà Nội từ đầu thế kỷ XX đến 1945-Hình thành và phát triển, Hội Âm nhạc Hà Nội, tr. 58

[39] Hoàng Dương, Sđd, tr. 52


 

  Nguồn: Nhạc Việt, số 20, 06/2021`

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018

Tìm hiểu NHÃ NHẠC TRIỀU NGUYỄN

Sách khảo cứu, NXB: Quân Đội Nhân Dân, 2017 (tái bản). Tác giả: Vĩnh Phúc (Bùi Ngọc Phúc)
Dân tộc Việt Nam hình thành trong lịch sử dựng nước và giữ nước, bao gồm nhiều thành phần, và ít nhiều có khác nhau về phong tục tập quán. Nền âm nhạc dân tộc cổ truyền nước ta cũng phản ánh tính chất dân tộc khác nhau của từng dân tộc, từng vùng miền đó. Mang lại sự phong phú về màu sắc địa phương và màu sắc dân tộc Việt Nam. Xem tiếp>>


Sự kế thừa và phát triển của Nhã nhạc triều Nguyễn

Vương triều nhà Nguyễn từ khi mới lập nghiệp ở phương Nam đã sớm biết sử dụng nghệ thuật âm nhạc để “di dưỡng tinh thần” và để biện chính cho sự nghiệp bá vương của mình trong thế đối lập với nhà Trịnh ở Đàng Ngoài. Ngay từ đời chúa NguyễnPhúc Nguyên (1613 – 1635) Lộc Khê hầu Đào Duy Từ đã lập ra Hòa Thanh thự luyện tập một ban vũ và nhạc để múa hát vào những ngày khánh lễ. Hòa Thanh thự gồm 3 đội… Đội Nhất và đội Ba trông coi về nhạc, đội Nhì trông coi về ca và vũ. [1]Cố nhiên, đây chưa phải là Nhã nhạc, nhưng đã tạo dựng nền tảng nghệ thuật chuyên nghiệp, làm tiền đề cho âm nhạc cung đình các vương triều sau. Xem tiếp>>>

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2018

HÁT Ả ĐÀO, DẪN LIỆU TỪ BÁO CHÍ XƯA VÀ NAY

VĨNH PHÚC
Hát Ả Đào, còn gọi là Ca trù, dùng để chỉ một lối hát cổ truyền của người Việt. Theo các thư tịch thì khái niệm hát Ả đào sớm nhất so với các khái niệm ca trù, nhà trò, cô đầu,... Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” về nguồn gốc loại nhạc này có viết: “Mùa thu, tháng 7 năm Ất Sửu (1025) đời Lý Thái Tổ… Định lại các khoản quản giáp. Chỉ con hát mới được gọi là quản giáp. Khi ấy có con hát là Đào thị, giỏi nghề hát, thường được thưởng, người bấy giờ hâm mộ tiếng của Đào Thị, cho nên phàm con hát đều gọi là đào nương”. Sau này ai làm nghề đó đều được gọi là “Đào hát”. “Đào nương” hay “ả Đào” đều có nghĩa ám chỉ người con gái làm nghề hát xướng. Các sách Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ, Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề tuy nói khác nhau về thời gian xuất hiện khái niệm hát ả đào mấy thế kỷ (nhà Lý và nhà Hồ) nhưng đều nói đến một lý do giống nhau là có một ca nhi họ Đào được ái mộ nên về sau những người ca hát được gọi là ả đào.
Tên gọi ca Trù cũng đã được tài liệu cổ ghi nhận. Theo Hán Nôm, chữ “trù” trong ca trù là thẻ làm bằng tre, trên thẻ có ghi số tiền (hoặc quy định ngầm với nhau về giá trị tiền bạc của mỗi thẻ), dùng để thưởng cho đào và kép ngay trong khi biểu diễn thay cho việc thưởng bằng tiền mặt; cuối chầu hát sẽ căn cứ vào số thẻ mà tính tiền trả cho đào và kép hoặc giáo phường. Người quyết định việc thưởng này chính là vị quan viên (khách nghe hát), sử dụng trống chầu (gọi là cầm chầu). Đó là nguồn gốc của tên gọi ca trù. Tuy nhiên ca trù, với ý nghĩa là một lối hát có dùng thẻ để thưởng như đã nói ở trên thì chỉ có ở hát ca trù ở đình đền, tức là hát thờ.
Có thể có nhiều tên gọi cho nghệ thuật hát này ở từng địa phương, từng thời điểm, tùy theo không gian diễn xướng khác nhau mà có những tên gọi khác nhau như hát Ả đào – Ca trù còn gọi là  hát nhà tơ, hát nhà trò, hát Cô đầu…
Tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2009, Ca trù của Việt Nam đã được ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
***
Có thể nói hát Ả đào, hay Ca Trù là một nét son trong truyền thống sinh hoạt nghệ thuật âm nhạc chuyên nghiệp cổ truyền của người Việt. Không quá đáng nếu cho rằng: hát Ả đào, suốt một chiều dài lịch sử, bằng một sức sống mãnh liệt đã cô đúc và tiềm ẩn trong nó những tín hiệu đặc trưng độc sáng của văn hóa dân tộc. Một thể loại mà trong tiến trình phát triển đã thích ứng, hòa nhập với đủ mọi thiết chế văn hóa của xã hội Việt Nam: vừa mang tính chuyên nghiệp cao trong cung vua phủ chúa (hát cửa quyền); vừa mang đậm yêú tố dân gian trong tín ngưỡng thờ thần hoàng ở hàng xã hàng huyện (hát cửa đình) và kể cả giai đoạn "bán chuyên" như ở môi trường hát nhà tơ, hát cô đầu, quan viên...Đặc biệt, Ả đào không phải chỉ là một hình thức sinh hoạt nghệ thuật dành riêng cho một tầng lớp nào mà có thời nó đã trở thành một sinh hoạt phổ biến trong công chúng, như học giả Nguyễn Đôn Phục trong “Khảo luận về cuộc hát ả đào” 1 đã cho biết: "… hát ả đào chỉ Bắc kỳ ta là thịnh nhất, không tỉnh nào không có, không huyện nào không có. Trong một huyện thường hai ba làng có ả đào, mà Trung kỳ thời chỉ tự Nghệ, Tĩnh trở ra là có cuộc hát ả đào mà thôi".
Chuyển biến theo lịch sử thăng trầm của dân tộc, đến đầu thế kỷ XX hát Ả đào bước vào giai đoạn suy thoái. Sự suy thoái này hoàn toàn không do bản thân thể loại Ả đào mà đây chính là sự suy thoái của xã hội thời bấy giờ. Phạm Quỳnh trong bài diễn thuyết “Văn chương trong lối hát Ả đào”2  năm 1923 cũng từng phê phán: "...Há phải lỗi tại lối hát ả đào sao ? Hay là chính lỗi tại các quan viên ngày nay không có cái phẩm cách, cái chí thú như quan viên đời xưa, mà để cho một lối chơi rất phong nhã, rất thanh tao biến thành một cuộc dâm bôn, một bàn cớt nhả ? ". Vấn đề này từ năm 1919 học giả Đông Châu cũng đã luận bàn: "phải hiểu thấu văn chương, thời mới sành cung bậc, có sành cung bậc thời mới đánh lọt được tiếng chầu...còn như lả lơi trên chiếu rượu, chớt nhả ngón nhân tình, không phải là cách chơi phong nhã của người quân tử vậy." 3 Hát Ả đào lại phải thích ứng, sự việc từ "một nghệ thuật" trở thành "một kỹ nghệ" (như cách gọi của Đỗ Bằng Đoàn), thì một lần nữa chứng tỏ sự nổi trội của yếu tố nghệ thuật Ả đào; một lần nữa chứng tỏ sức mạnh hội nhập, thích nghi và lan tỏa của văn hóa truyền thống. Một số loại hình nghệ thuật khác như múa, sân khấu... ít nhiều, đậm nhạt đều mang vết tích nghệ thuật của ca trù, của Ả đào. Đôi lúc, chẳng hạn trong lĩnh vực sân khấu, “đủ để nhìn nhận như một trong những thành phần cơ bản đã hình thành nên nghệ thuật tuồng”.  Sức mạnh này là gì nếu không phải là bản sắc dân tộc được bồi đắp cho hát Ả đào qua hàng thế kỷ ? Xã hội suy thoái, văn hóa phương Tây với đầy đủ tính thực dụng của nó đang ngày càng chiếm lĩnh đời sống tinh thần công chúng các vùng đô thị thời bấy giờ, tại sao một thể loại nghệ thuật cổ truyền lại phát triển chưa từng thấy (dù là phát triển theo chiều hướng được gọi là suy đồi về sau) như một hiện tượng cạnh tranh với văn hóa ngoại lai ? 
Lịch sử một thời đã khắt khe và không công bằng khi cách ly hát Ả đào với truyền thống âm nhạc cổ truyền; đã "bỏ rơi" một một sản phẩm tinh thần mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc lúc nó đang sức cùng lực kiệt. Mấy mươi năm sau tìm lại, được chăng cũng chỉ là những mảnh vụn đã rơi vãi theo thời gian; có chăng cũng chỉ là âm ba vọng lại từ trong sâu thẳm ký ức của các "ả đào già" lìa xa phách-nhịp đã ngót nửa thế kỷ nay. Cố nhiên, đấy chỉ là một khía cạnh về hát Ả đào trong tiến trình phát sinh phát triển của một loại thể nghệ thuật cổ truyền.

                                   Ca Trù phường Thái Hà (Hà Nội) hiện nay. Ảnh từ video
Nghiên cứu phê bình về hát Ả đào trên các tạp chí xuất hiện tương đối sớm và nhiều hơn hẳn so với các thể loại khác. Tạp chí Nam Phong năm 1923 với bài của Phạm Quỳnh (đã dẫn) chủ yếu là luận cái giá trị văn chương trong thể Hát nói. Tuy vậy trong phần đầu ông cũng đã có những nhận xét, bình luận về nguồn gốc, âm luật và các lối hát. Vào giai đoạn này, điều đáng nói nhất là việc ông đã sớm phê phán một số người cố áp đặt, gán ghép cái âm luật của Trung Hoa vào hát Ả đào: “... cố đem cái trù phạn cũ rích của sách tàu mà ghép vào các thanh âm của ta, như cung huỳnh là thuộc Cung, hát trai là thuộc Thương, cung bắc là thuộc Giốc, cung nam là thuộc Chủy, hát gái là thuộc Vũ ; mà Cung là thuộc Thổ, thương là thuộc Kim, Giốc là thuộc Mộc, Thủy là thuộc Hỏa, Vu là thuộc Thủy ; thật là phiền toái và vô nghĩa lý”. Cái điều mà hơn nửa thế kỷ sau vẫn có những nhà nghiên cứu cứ xem là mới và đã áp dụng vào việc phân tích âm nhạc cổ truyền dân tộc. Ngoài ra trong bài diễn thuyết Phạm Quỳnh còn có những nhận xét liên quan đến âm nhạc. Chẳng hạn: “Hát ả-đào có nhiều lối lắm, khác nhau ở lời văn ít, khác nhau ở giọng hát nhiều...- lối dịp ba cung bắc, trong khúc hát có ba chổ đổi điệu, chen cung nam cung bắc rồi chuyển sang cung pha”.
“Khảo luận về cuộc hát Ả đào” của Nguyễn Đôn Phục 4 là một khảo cứu đầy đặn về một "xã hội Ả đào" trước giai đoạn suy thoái, bế tắc. Có thể nói rằng qua mô tả nề nếp sinh hoạt, từ  tổ chức giáo phường, hát đình, hát đám, hát thi, tác giả bài khảo cứu hầu như đã nhấn mạnh và đề cao kỷ cương, phẩm hạnh của giới ca kỹ nước nhà. Ở đây không gợn lên chút nào sự suy đồi, băng hoại về đạo đức của đội ngũ đào nương: " truy nguyên lại cái quy tắc trong nhạc tịch, và cái phong hóa trong giáo phường, thực cũng đáng bảo thủ, mà cũng đáng khen thay ! ...Cũng có người nói bọn ca kỹ nước Nam ta là kỹ trung chi lương, nói thế cũng khí quá đáng, nhưng tưởng cũng không phải là quá đáng". Đặc biệt ngoài việc liệt kê một cách đầy đủ danh mục các cách hát, điệu hát rất mực phong phú của hát Ả đào, ông còn đi sâu vào từng lối hát, lối gõ phách, lối chầu, lối đàn một cách cặn kẻ, cụ thể. Chẳng hạn, đàn cũng có lối đàn khuôn là lối đàn được gọi là giáo phường đệ nhất bộ, và lối đàn hàng hoa "kém bề khuôn phép, chỉ có ngón đàn tài hoa, thêm thắt ly kỳ, nghe thì cũng thấy sướng tai nhưng cô đào khó gõ phách, quan viên khó đánh trống". Thì đây, tác giả đã nói đến tính chất ngẫu hứng tòng theo giai điệu như một đặc trưng tấu đàn và đệm hát trong truyền thống cổ truyền chuyên nghiệp mà sau này vẫn thấy ở Ca Huế và Ca nhạc Tài tử. Mặc dù các vấn đề chưa được trình bày một cách có hệ thống, có phần tản mạn và hẳn là không phải khảo cứu âm nhạc nhưng những nhận xét và thông tin trong khảo luận sẽ có giá trị cho những nghiên cứu hát Ả đào về sau.
Nguyễn Xuân Khoát thì đi sâu vào chuyên môn hơn với bài  “Âm nhạc lối hát Ả đào”.5 Bài đăng năm 1942 trên báo Thanh Nghị, chỉ sưu tầm được mục đàn Đáy và trống Chầu. Gọi là đi sâu vào chuyên môn nhưng thực ra chỉ nêu sơ lược về cây đàn Đáy và lối nhấn nhá đặc trưng của loại đàn này. Về trống Chầu cũng chỉ nói qua về ý nghĩa, công dụng và vai trò người cầm chầu. Tuy rằng có một vài dẫn dụ lý thuyết âm nhạc phương Tây sơ đẳng diễn đạt bằng tiếng Việt rất tối nghĩa lại không đúng với bản chất âm nhạc Ả đào như : "đoạn này điệu đàn đều lấy ở một hiệp âm vị thành cung (accord parfait mineur) - Một hiệp âm sầu não, buồn rầu - nhưng cung (intervalle) vị thành tam cấp (tierce mineur) và tiếng đứng cách âm chính không đầy ba bậc đã dùng đến rất ít (...) nên khúc đàn này không buồn ". Nghiên cứu phê bình âm nhạc cổ truyền thời bấy giờ (1942) mà dẫn ra được một trường hợp na ná, có dây mơ rễ má với căn bản nhạc lý Âu Tây mới du nhập, thì cũng là  đã "học thuật" lắm rồi. Những năm về sau  trong “Đôi điều tâm đắc về ca trù” -1973, 6  cách phân tích, nhận xét của ông khác đi nhiều: “cái mềm mại và cái nhuần nhị của lời hát được những tiếng phách khô giòn, thanh khiết nâng lên, trong khi đó tiếng đàn đáy vừa nhuần nhị lại vừa rắn rỏi, gắn hai cái lại, còn những tiếng chát, tiếng tom mà người cầm chầu đã phải tập thế nào để cho khỏe được, cho tròn được, cho hào hứng được, để tô điểm cho bức tranh âm thanh này khởi sắc lên một cách thần tình". Những năm sau nữa, trong bài báo “Cái đẹp của lối hát ca trù”7 - năm 1986, nhạc sĩ  Nguyễn Xuân Khoát thừa nhận ca trù có nguồn gốc dân gian sau đó mới du nhập vào hệ nhã nhạc xướng hát ở cung đình và rồi trở lại với lối chơi thanh cao trong gia đình. Đã có những nhận xét về âm nhạc sâu sắc hơn: “Ca trù ngoài giọng hát, có thêm cổ phách, cây đàn đáy và chiếc trống chầu ; trong ca trù những thành tố này đã được lựa chọn đến mức không thể thay đổi một âm sắc mà không ảnh hưởng đến tính chất của lề lối”. Ông cũng phản bác việc viết lời mới cho ca trù, và cho là cái luận điển bình cũ rượu mới cho đến hôm nay là phi khoa học, phi nghệ thuật, phi lô-gich, không thể dung tục áp dụng được. v.v...
“Hát Ả đào” 8 của GS. Trần Văn Khê được công bố năm 1960 là một khảo cứu tương đối khoa học hơn so với những khảo cứu về hát Ả đào trước đó. Các vấn đề Nguồn gốc, Tổ chức giáo phường, Âm nhạc trong ả đào được tra cứu ở nhiều nguồn tư liệu và trình bày, diễn giải một cách hệ thống, súc tích. Về nguồn gốc, như trong nhiều khảo cứu của Hoàng Yến, Phạm Quỳnh, Nguyễn Đôn Phục, Trần Văn Khê cũng "tạm cho là xuất phát tại vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh muộn nhất là vào đầu thế kỷ XV".
Vấn đề này, xin dẫn thêm thông tin trong bài giới thiệu vốn văn nghệ dân gian các dân tộc miền núi Nghệ Tĩnh,9 Hoàng Thọ có nói đến việc dân tộc Thổ sử dụng đàn Đáy trong hát nhà tơ, liệu có liên quan gì đến vấn đề này chăng? Trong phần Lạm bình của bài “Tồn cổ lục” 10 đăng trên Nam Phong năm 1919, tác giả Đông Châu cũng cho rằng: "Lối hát ả đào khởi ra tự trong Thanh Hóa, mà thịnh hành ở ngoài Bắc kỳ ta". Gs. Trần Văn Khê cho biết vào thế kỷ XVII hát Ả đào rất thịnh và nghề hát Ả đào là một nghề cao quý vì các đào nương chỉ sống với nghề hát thôi. Phần Âm nhạc trong Ả đào, mục Nhạc khí, Trần Văn Khê dẫn theo Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ nói là ngày xưa phụ họa cho cuộc hát Ả đào phải có cả một dàn nhạc gồm 7 nhạc cụ. Ông mô tả khá kĩ lưỡng về cây đàn Đáy, một loại đàn chỉ sử dụng trong hát Ả đào. Mục nói về các điệu hát, lối hát chủ yếu dẫn theo các nhận xét bình luận trong khảo cứu của Nguyễn Đôn Phục, Phạm Quỳnh. Mục các điệu múa cũng là những tư liệu bổ ích cho những khảo cứu toàn diện về hát Ả đào cũng như mối liên hệ của chúng với các điệu múa cung đình triều Nguyễn.
Đỗ Bằng Đoàn trong  bài khảo cứu về “Quá trình tiến hóa của ca trù và ảnh hưởng của ca trù đối với văn hóa dân tộc” 11 đã hệ thống hóa quá trình phát triển của ca trù qua sự đúc kết rất tổng quát nhưng cô đọng và hình ảnh: Phát triển về bề rộng gồm 4 giai đoạn: cung vua, đền thần, dinh quan và tư gia; quá trình tiến hóa của nội dung cũng qua 3 giai đoạn: nhạc, thơ và sắc. Ông đã luận giải các vấn đề trên cũng rất gọn gàng và súc tích: “Từ cung cấm ra đến dân gian, qua đền thần và dinh quan ca trù đã phát triển về bề rộng theo đúng hệ thống giai tầng của xã hội Việt Nam cũ...Từ nhạc, qua thơ đến sắc, nội dung ca trù đã khai thác tất cả những khía cạnh có thể có của một ngành nghệ thuật”. Trong việc ảnh hưởng của ca trù đối với văn hóa dân tộc, theo ông: ca trù đã cảm hóa con người, cảm hóa xã hội, "nhưng quan trọng hơn hết là ảnh hưởng của ca trù đối với văn chương quốc âm...đã hiến cho chúng ta một thể thơ đặc biệt Việt Nam là hát nói". Như thế qua sự phân tích cả chiêu sâu bề rộng tác giả đã tìm được cho quá trình của hát Ả đào một chu kỳ tiến hóa tron vẹn. Tuy vậy, việc tác giả cho là Ca trù bắt nguồn từ ban nữ nhạc trong cung vua, và từ ban nữ nhạc đến cô đầu ngày nay ca trù đã có non một nghìn năm lịch sử, thì cũng chỉ là sự suy luận không có căn cứ, dẫn chứng nên thiếu thuyết phục. Nhưng cái tồn nghi quan trọng nhất chưa được giải quyết vẫn là: Ả đào từ dân gian vào cung cấm hay từ cung cấm ra với dân gian ?
Trong một khảo cứu dân tộc học: “Vài nét về sinh hoạt của hát Ả đào trong truyền thống văn hóa Việt Nam” 12 GS. Lê Văn Hảo đã đề cập đến các vấn đề lớn như địa vị Ả đào trong lịch sử xã hội Việt Nam qua các giai đoạn từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX; Nghệ thuật và sinh hoạt của Ả đào trong văn hóa và phong tục Việt Nam. Ông nêu qua hai hình thức sinh hoạt của nghệ thuật này ở giai đoạn biến chất và đặc biệt nhấn mạnh  giai đoạn phát triển lành mạnh, chính đáng của hát Ả đào  trong truyền thống văn hóa dân gian. Nhấn mạnh nguồn gốc dân gian của Ả đào, Lê Văn Hảo cho rằng: "Vai trò quan trọng nhất của Ả đào tự khởi thủy đến nay, theo thiển ý, có lẽ là vai trò của một nghệ thuật bình dân chủ ý tô điểm cho một khía cạnh của tôn giáo bình dân là sự cúng tế Thành Hoàng, vị thần phù hộ làng mạc Việt Nam”. Có thể vì thế mà ông quan tâm đến môi trường diễn xướng, các hình thái sinh hoạt quan trọng mang tính phong tục gắn với truyền thống văn hóa cổ truyền dân tộc như tục “thưởng giải ca chúc thần” ở làng Bát Tràng và Thị Cầu (Bắc Ninh), tục “phẩy quạt rao, lấy tiền thưởng ả đào” ở làng Phù Lưu (Bắc Ninh). Lại có những tục lạ kỳ liên quan đến phong tục tình ái của người Việt cổ đại có sự tham dự của Ả đào, mà tác giả gọi là Hèm - một điển lễ bí mật được tiến hành đêm cuối trong lễ vào đám. Chẳng hạn điển lễ giả làm thần bắt ả đào ở làng Đang Nhiểm (huyện Văn Giang): kỳ mục nhảy vào ôm ả đào, con trai cũng nhảy vào ôm con gái; tục cho trai gái (kể cả ả đào) tự do  gần gũi nhau 3,4 phút trước bàn thờ thần trong đêm ca thờ thần ở làng Khắc Niệm thượng (huyện Vũ Giàng).
Trong bài điểm sách “Đọc quyển Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề”,13 Lê Văn Hảo không dừng lại ở phạm vi một bài "điểm sách" thông thường mà mở rộng thành một tiểu luận phê bình. Ông đã tóm lược, bình luận và nêu bật được những giá trị của quyển sách đối với lịch sử văn hóa âm nhạc Việt Nam. Đồng thời chỉ một số hạn chế, chẳng hạn như vấn đề nguồn gốc và thời gian ra đời của ca trù. Ông "chưa thấy sử liệu nào cho rằng Ca trù từ trong cung điện truyền bá ra đến cửa đình, cửa đền" và đã có nhận xét hay liên quan đến tên gọi Ca trù - Ả đào: “ tôi nhận thấy danh từ dùng để gọi chung tất cả các lối Hát Ả đào, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát nhà tơ v.v...là danh từ Ca trù (hát thẻ) có lẽ là danh từ cũ nhất, nguyên nghĩa chỉ một tập quán văn hóa dân gian và minh chứng được phần nào nguồn gốc dân gian của Hát Ả đào”. v.v...
“Hát Ả đào” của Nguyễn Duy Diễn 14 không phải là một nghiên cứu phê bình xuất sắc về hát Ả đào nhưng những điều ông nêu ra trong phần đầu bài viết cũng cần phải xem xét. Như việc ông cho rằng trong các cuộc tế lễ ở đình miếu ngày xưa, để đở mệt mỏi vì phải đứng lên quỳ xuống khấn vái dâng hương liên tục, các vị kỳ mục nảy ra ý định xen nhạc vào trong khi hành lễ vừa được nhẹ nhàng cho buổi lễ cũng vừa thích hợp với chủ trương Lễ Nhạc của Khổng giáo. Vì những bài hát thờ đều mang tính chất trang nghiêm nên sau buổi lễ các cụ thường đến nhà các thiếu nữ hát thờ để nghe những bài có màu sắc tự do phóng khoáng hơn như Bồng mạc, Sa mạc, Gửi thư  v.v... Lâu dần thành nếp và Ả đào xuất hiện từ đó, là biến thể của hát cửa đình. Việc thời điểm ra đời của Ả đào mà một số ý kiến cho là  dưới thời Lê khi Nho giáo đã đi tới chổ toàn thịnh, tác giả bài viết Nguyễn Duy Diễn đã đưa ra điều nghi ngại: Tại sao trong thơ văn của các tác giả sáng tác qua các thế kỷ từ XV đến đầu  XVIII không có đoạn nào, câu nào xét ra có dính líu tới hát Ả đào. Sau khi xem xét dấu vết trong thơ văn của các tác giả cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX ông giả định hát Ả đào “rất có thể có từ dưới thời Lê trung hưng hoặc gần hơn nữa, dưới thời Lê mạt (hậu bán thế kỷ XVIII)”.
GS.Tú Ngọc đã nêu ra những điểm tương đồng và khác biệt khá lý thú của hai loại hát trong khảo cứu: “Mối quan hệ giữa hát Xoan và hát Ca trù”15. Qua so sánh, đối chiếu trên các phương diện lịch sử và truyền thuyết, phong tục và lễ nghi tín ngưỡng, môi trường, trình thức diễn xướng và hệ thống, nội dung bài bản… Tác giả bài khảo cứu muốn làm sáng tỏ bản chất đặc trưng thể loại chung của chúng. Qua những điểm tương đồng mà đặc biệt là hệ thống chương trình nội dung tiết mục, đã cho thấy khởi nguyên của hai loại hát này - hát Xoan và Ca trù - cũng đều là một hình thức dân ca nghi lễ, tế thần có cội rễ sâu xa trong đời sống tinh thần của cư dân người Việt gắn với không gian trình diễn là cửa đình, cửa đền. Đồng thời tác giả dẫn ra những điểm khác biệt cơ bản dẫn đến “những khuynh hướng phát triển khác nhau của một vài hình thức dân ca nghi lễ của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ”. Có một vấn đề về sự xuất hiện của các tên gọi (mà điều này lại liên quan mật thiết với quá trình phát triển của thể loại Ca trù) theo như ông nói: “thoạt kỳ thủy là hát cửa đình, sau đó là hát Ả đào (Ả đầu, Đào nương ca), hát ca trù, hát nhà trò, hát nhà tơ, hát cô đầu" thì ngược lại với ý kiến với một số người khác cho rằng tên gọi Ca trù là xưa nhất.
Bài viết “Ca trù qua một số truyền thuyết” 16 của Trần Thị An chỉ xoáy sâu vào nguồn gốc xuất xứ của Ca trù qua các truyền thuyết. Trong mục Truyền thuyết về tổ Ca trù, tác giả bài viết nhấn mạnh đến cái nôi ca trù Cổ Đạm và qua truyền thuyết về cây đàn đáy (chỉ có ở Cổ Đạm) để giải quyết vấn đề: Có thể ca trù có từ đời Lý nhưng cuối đời Lê mới xuất hiện tổ ca trù. Tác giả cũng lưu ý về mối liên quan giữa ca trù và cái nôi dân ca Nghệ Tĩnh: “Đó là việc dùng "hơi trong" của ca trù với âm "ư" làm nền và tiếng đưa hơi "ư, hư, ni, nị" tạo giọng trầm trong hát Dặm Nghệ Tĩnh. Ý nghĩ về việc hát ca trù và hát dặm có chung một quê mẹ  văn hóa là đáng suy nghĩ”.
Theo Phạm Khương trong bài viết “Ca nhạc dân gian Vĩnh Phú” 17 thì ở vùng đất tổ còn có “Hát Nhà tơ một lối hát riêng mà sau này được gọi là lối hát Ả đào”. Ông cho biết trước đây ở các huyện của tỉnh Vĩnh Phú có ít nhất là 15 phường hát thường hát suốt ba tháng xuân hết đình này đến đình khác, nhưng không cho biết các phường Nhà tơ này tồn tại trong thời gian nào. Trong đó “phường Chế Nhuệ (Phú Thọ) là "tổ" của hát Nhà tơ hàng năm vào tháng giêng các phường trong tỉnh đều về Chế Nhuệ mở hội hàng phủ để tế "tổ" rất vui”.
“Từ ca trù đến hát bội”,18 trong phần sơ lược về ca trù tác giả Lê Ngọc Cầu tiếp cận tư liệu lịch sử với góc nhìn rộng hơn, không phải đi tìm dấu vết một tên gọi ả đào hay ca trù mà Ca trù chính là toàn bộ phong tục múa - hát của người Việt và ông thấy rằng, “con hát đã thành chuyên nghiệp hẳn hoi ít ra là từ thế kỷ V. Qua thời Đinh, thời Lý, khoảng thế kỷ X về sau thì nghề hát múa của ta đã thịnh hành lắm rồi...Với các cứ liệu đó, chúng ta có cơ sở để nói rằng, hát cửa đình và sân chầu bằng nghệ thuật ca trù đã ra đời rất sớm lại được phổ biến rộng khắp tờ dân gian vào cung phủ, đi vào sinh hoạt của nhân dân ta để trở thành một phong tục từ ngàn xưa để lại”. Từ quan điểm đó tác giả đã phân tích, dẫn chứng một cách thuyết phục về mối quan hệ gắn bó giữa ca trù và sân khấu, ca trù “được nhìn nhận như một trong những thành phần cơ bản đã hình thành nên nghệ thuật tuồng”.
Trong vấn đề bảo tồn và phát huy vốn cổ Ca trù, một bài báo nhỏ - “Mừng ít, lo nhiều” 19 của B.D, nhận xét về cuộc Liên hoan ca trù mở rộng lần thứ nhất tháng 12 năm 2000. Khi đề cập vấn đề nhiều tỉnh có vùng ca trù cổ nhưng không tham gia liên hoan, tác giả cho rằng nguyên nhân do không có sự quan tâm đúng của ngành văn hóa. Thậm chí một số tỉnh không còn biết ca trù tỉnh nhà nằm ở đâu và sống chết thế nào. Nhiều tỉnh đã không cử các nghệ nhân ca trù tham dự Liên hoan mà lại cử một đoàn văn công tỉnh đã nhiều năm chuyên đầu tư vào việc sáng tác các bài ca trù mới.  Việc cải biên tùy tiện ca trù trong một số đoàn ca trù biểu hiện trong Liên hoan đã trở thành một xu hướng đáng lo ngại cho nghệ thuật ca trù đang như một cô gái ốm, vấn đề bây giờ không phải là vực dậy để mặc cho cô quần áo đẹp mà vực dậy là để phục thuốc thang. Nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn trong bài “Cần khẳng định ca trù là nhạc dân gian của Hà Nội”20 sau khi phân tích sự biến thái phát triển của Ca trù từ dân gian vào cung đình và đã sống gần trọn nghìn năm trên đất Thăng Long, tác giả đã phê phán thái độ hững hờ của Hà Nội đối với đứa con của mình: “Vậy có thể nói Ca Trù là đứa con xinh duyên, tài hoa mà chỉ có người mẹ Hà Nội mới đủ điều kiện để sinh ra nó. Và người mẹ ấy vẫn nuôi nấng thương yêu, nhưng không hiểu sao lại không dám nhận là con mình, nên có khi nó đã bị ghẻ lạnh, sống vất vưởng”.

Nghệ nhân “nhí” Thu Thảo trong gia đình Ca trù Thái Hà hiện nay. Ảnh chụp từ video.
Nghệ nhân Ca trù Phạm Thị Mùi. Ảnh chụp từ video.

TÀI LIỆU DẪN
1. Nguyễn Đôn Phục (1923), Khảo luận về cuộc hát Ả Đào, Nam Phong số 70, tháng 4. 
2. Phạm Quỳnh (1923), Văn chương trong lối hát Ả Đào, Nam Phong số 69
3. Đông Châu (1919), Tồn cổ lục, Nam Phong  số 30
4. Nguyễn Đôn Phục (1923), Khảo luận về cuộc hát Ả Đào, (Đã dẫn)
5. Nguyễn Xuân Khoát (1942),  Âm nhạc lối hát Ả Đào, Thanh Nghị số 14,17.
6. Hoài Anh (1973),  Đôi điều tâm đắc về Ca trù. Văn hóa Nghệ thuật số 26.
7. Nguyễn Xuân Khoát (1986),  Cái đẹp của lối hát Ca trù Văn Nghệ số 23.
8. Trân Văn Khê (1960),  Hát Ả Đào         , Bách Khoa, SG, số 81, 82, 83.
9. Hoàng Thọ (1981), Tìm hiểu bước đầu về vốn văn nghệ dân gian trong các dân tộc miền núi Nghệ Tĩnh, Văn nghệ Nghệ Tĩnh, số 12.
10. Đông Châu (1919), Tồn cổ lục, (Đã dẫn)
11. Đỗ Bằng Đoàn (1962), Quá trình tiến hóa của Ca trù và ảnh hưởng của Ca trù đối với nền văn hóa dân tộc, Bách Khoa, SG, số 132.
12. Lê Văn Hảo (1962), Vài nét về sinh hoạt của hát Ả Đào trong truyền thống văn hóa Việt Nam, Tạp chí Đai Học số 5.
13. Lê Văn Hảo (1963), Đọc quyển Việt Nam Ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, Đại Học số 32.
14. Nguyễn Duy Diễn (1963), Hát Ả Đào, Gió Mới, bộ 6 số 5.
15. Tú Ngọc (1997), Mối quan hệ giữa hát Xoan và hát Ca trù, Văn hóa Nghệ thuật số 9.
16. Trần Thị An (1999), Ca trù qua một số truyền thuyết, Tạp chí Sông Hương số 125.7
17. Phạm Khương (1984), Ca nhạc dân gian Vĩnh Phú, Văn hóa Dân gian số 4
18. Lê Ngọc Cầu (1983), Từ Ca trù đến hát Bội, Nghiên cứu Nghệ thuật, số 2
19. Đ.D. (2000), Mừng ít lo nhiều. Thể thao Văn hóa số 99. 12
20. Dương Đình Minh Sơn (1996), Âm nhạc- Tác giả & Tác phẩm (Trần Cường biên soạn) Nxb Âm Nhạc, tr. 256.
Tham khảo ngoài
- Võ Hoàng Lan (1995), Hát nói 1 số nho sỹ, T/c VHNT số 11.
- Nguyễn Hiến Lê (1962),  Nhân đọc bộ Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, Bách Khoa số 136,137.
- Sơ Cuồng (1934), Ca vũ và  âm nhạc nước nhà, Nam Phương số 193.
- Hoàng Cầm (1997), Tiếng trống chầu của bác Nguyễn, Việt Nam số 40.
---------------------------------------
Nguồn: Vĩnh Phúc (2017), Tuyển tập Nghiên cứu, Phê bình âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb Mỹ Thuật, Hà Nội.

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018

ĐÔI ĐIỀU VỀ BẢN QUỐC CA TRIỀU NGUYỄN

                                                                     VĨNH PHÚC

Dưới thời Khải Định (1916 – 1925), năm 1919 nhà vua cho lập một dàn nhạc kèn hơi theo kiểu Pháp để làm công tác đối ngoại, phục vụ cho các nghi lễ do triều đình tổ chức như các buổi đón khách, tiếp sứ…Dàn nhạc thường cử hai bài quốc ca Pháp (Marseillaise) và quốc ca Nam triều… Dàn nhạc kèn hơi này gồm có 35 nhạc công vừa sử dụng các loại kèn của phương Tây và cả nhạc cụ dân tộc do ông Trần Văn Liêu làm nhạc trưởng.[1]
Việc quốc ca Nam triều từ thời vua Khải Định đã được nhiều tài liệu cho là một bài bản đại nhạc rất phổ biến thường được tấu lên khi vua đăng đàn và xa giá hồi cung trong lễ tế Giao, tế Xã tắc… ở cung đình, hoặc ban nhạc lễ ngoài dân gian, là bài Đăng đàn cung. Bài bản Đăng đàn cung này được nhiều tài liệu cho là quốc ca triều Nguyễn với lời ca của Ưng Thiều là:
“Dậy, dậy, dậy mở mắt xem toàn châu
Đèn khai hóa rạng khắp hoàn cầu
Ngọn đường thông thương ngàn dặm, xe tàu điện, tàu nước, tàu bay
Nghề khôn khéo chạy khắp phương trời
Càng ngày văn minh càng rộng, tranh cạnh lợi quyền”…

            Điệu hát truyền thống này từ trước đã được nhiều người soạn lời mới. Lời mới trên là của Nguyễn Trung Phán soạn và ký âm theo phương pháp cổ truyền, được in trong cuốn “Dạy hát tiếng Nam” cho học sinh học hát với tên là “Có học mới hay”, do nhà in Tiếng Dân tại Huế in lần thứ nhất năm 1925 và tái bản năm 1929. 


            Lời 2:
“Người Nam Quốc, một giống Tiên Rồng,
Thiệt giòng giai nhân tài tử, xưa rày gọi là nước tài ba.
Nền văn hiến, nặn đúc anh hùng,
Sẵn tài thông minh trời dựng, thêm nghề học hành.
Học càng ngày càng tiến, nghề nghiệp mở rộng.
Nước càng giàu càng mạnh, nòi giống thêm vẻ vang”…

Điệu “Đăng đàn cung” này rất phổ biến trong dân gian, nên từ những năm 1930 đã được soạn lời mới phục vụ cho tuyên truyền đấu tranh cách mạng, lấy tên là “Tiến quân”, do nhạc sĩ Lê Quang Nghệ sưu tầm tại Nghệ Tĩnh:

… “Kìa thân thế cực xiết bao vành.

Nỗi niềm ta sao đành chịu

Mau lo liệu đoàn kết từ đây

Người binh lính, kẻ thợ, dân cày

Lợi quyền ta nay giành lại”…

Bài “Mừng ngày Phật đản" của Ưng Bình Thúc Giạ năm 1936: 

“Vui mừng gặp ngày nay mồng tám tháng tư.

Là khánh tiết Phật Thích Ca Ngài”…

Hoặc bài “Hồng Lạc ca” cũng của Ưng Bình Thúc Giạ năm 1940:

“Dân Hồng Lạc mình đây đã bốn ngàn năm

Gây non nước từ trước lâu dài

Ngọn cờ Hoa Lư ngời rạng

Đinh, Lê rồi lại Lý, Trần, Lê”…

v.v…

Đã có nhiều tác giả vẫn nhầm là quốc ca triều Nguyễn và đã trích dẫn vào các tài liệu, khảo cứu của mình.[2]  Trẻ con ngày xưa cũng thường hát chơi trên điệu hát này là: “Chè xôi chuối để cúng ông bà, thịt gà rô ti, thịt vịt, tôm, cua, đậu xào” v.v. và v.v… Vì vậy, việc xác định bài Đăng đàn cung là quốc thiều Việt Nam có từ thời vua Khải Định, đã gây ra sự nhầm lẫn, lẫn lộn kéo dài.
Trong một số bài viết, một số trang mạng, bản nhạc Đăng đàn cung cũng thường được khẳng định là Quốc thiều triều Nguyễn:
Xem thêm: “Huế tấu Đăng đàn cung đón Nhật hoàng và Hoàng hậu” 4/3/2017. Nguồn:
            Trong âm nhạc cung đình triều Nguyễn, hệ thống bài bản thuộc dàn Đại nhạc, có nhóm bài bản “Đăng đàn”, đó là những điệu nhạc khác nhau, được quy định chức năng của từng điệu như sau:
            - Đăng đàn đơn và một số điệu khác…: Tấu khi vua lạy trong các cuộc tế lễ của triều đình; Đăng đàn kép: Khi vua lạy tạ trong lễ tế Miếu; Đăng đàn cung: Tấu khi vua xa giá hồi cung trong các cuộc lễ tế Giao, tế Miếu… v.v…
Đăng đàn cung là điệu nhạc do kèn Bầu (kèn Dăm, kèn Bóp) diễn tấu trong dàn Đại nhạc (Cổ xúy=trống, kèn). Trong các tế lễ trọng đại không dùng cho dàn Tiểu nhạc (ty trúc=dây, sáo….):
Điệu Đăng đàn cung cho Kèn, trích đường nét giai điệu chính:

Trong một tập sách giới thiệu quốc kỳ, quốc huy và quốc ca của Pháp và ba nước Đông Dương là “Hymnes & pavillons d'Indochine” in tại nhà in Viễn Đông của Pháp (D'Extrême Orient) tại Hà Nội tháng 12 năm 1941, hiện  lưu trữ tại Thư viện quốc gia Pháp. Ngoài quốc kỳ, quốc huy còn in các bản quốc ca của Pháp, Việt Nam (Annam), Campuchia (Cambodge) và Lào (Laos)  theo bản ký âm ngũ tuyến.



                                                                  Trích 
Quốc ca Campuchia

Trích Quốc ca Lào

Bài quốc ca An nam chính thức có tên là “Đăng đàn” -  (Hymne National Annamite) vào thời Bảo Đại (1925 – 1945). Tuy nhiên, bản nhạc này được phỏng soạn theo khuôn mẫu bài Đăng đàn đơn trong hệ thống các bài bản “Đăng đàn” của Đại nhạc chứ không phải Đăng đàn cung. 
Bài hát kí âm theo phong cách âm nhạc phương Tây, nhưng không ghi tên tác giả chuyển soạn và ký âm. (Có thể, bài này mới do Nguyễn Hữu Hối ghi nhạc, Trần Như Tú phối âm, phối khí và sau đó được Nguyễn Phúc Ưng Thiều soạn lời cho học sinh hát để đón Bảo Đại từ Pháp về năm 1932) Trong bản in, trang tổng phổ ghi là “Đăng đàn”, phần dàn nhạc được rút lại cho đàn piano với phần đệm của dàn nhạc hoàn toàn theo phong cách hòa âm công năng chiều dọc của âm nhạc châu Âu; Bài hát được soạn ở giọng Đô thứ tự nhiên, hòa âm tiến hành bằng các hợp âm năm chính I, IV, V và hợp âm phụ là II7 và VIItn… Ở trang lời ca có ghi chú: “Văn bản sáng tác cho học sinh được hát trên (trong ngày) Vạn Thọ”
Bản nhạc Đăng đàn được ký âm theo phương pháp năm dòng kẻ, gồm nhạc  và lời đã xuất bản sau:
Bài quốc ca Việt Nam in trong “Hymnes & Pavillons D’Indochine”, D'Extrême Orient, Hà Nội, 1941. Nguồn: Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque national de France): http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5848625d/f29.image
Trong trang in lời ca lại in là Đăng-đàn-cung (Điệu Quốc-ca) Hymne National Annamite:
Nguồn: http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5848625d/f30.image
Bản nhạc “Đăng đàn” trên phỏng soạn theo âm điệu truyền thống bài Đăng đàn đơn được Bảo Đại kế thừa từ vua cha Khải Định và chỉ cải tiến bản quốc thiều cho “hiện đại” theo phong cách phương Tây mà thôi…
Trích giai điệu Đăng đàn đơn trong hệ thống đại nhạc cung đình để tiện so sánh:
Chính phủ Trần Trọng Kim, do Nhật dựng lên, dù chỉ tồn tại gần 5 tháng, trong tháng 4.1945 với dự thảo kiện toàn chính phủ mới, cũng đã quyết định tiếp tục lấy bài Đăng đàn làm quốc ca: “ Bài quốc ca thì từ trước vẫn dùng bài “Đăng Đàn” là bài ca rất cổ, mà âm điệu nghe nghiêm trang. Chúng tôi nghĩ: trước khi có bài nào hay hơn và có nghĩa lý hơn thì hãy cứ dùng bài ấy”.[3]
Với tư liệu trên, có thể “minh oan” cho bản quốc ca triều Nguyễn, một thời gian dài được gán cho điệu nhạc Đăng đàn cung truyền thống.
                                                                                     Vĩnh Phúc



[1] Dương Quang Thiện (1995), Sử liệu lịch sử âm nhạc Việt Nam, Nxb Viện Âm nhạc và Múa, Hà Nội.  tr.31-34.

[2]  Vĩnh Phúc (Bùi Ngọc Phúc), Âm nhạc cổ truyền Việt Nam qua báo chí nửa sau TK XX, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2011, tr. 85.
[3] Trần Trọng Kim (1969), Một cơn gió bụi  (Kiến văn lục), NXB Vĩnh Sơn, SG.